VAAC
Đang tải dữ liệu...
 
 Trang chủGiới thiệuSitemapLiên hệ
Trang chủ
Tin tức
Giới thiệu
Các hoạt động chuyên môn
Hợp tác quốc tế
Kiến thức HIV/AIDS
Văn bản pháp quy
Báo cáo/Nghiên cứu/Ấn phẩm
Hỏi đáp
Dự án Quỹ Toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS
Dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt nam giai đoạn II 2001-2006 (LIFE-GAP) :: Hợp tác quốc tế

Dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt nam giai đoạn II 2001-2006 (LIFE-GAP)

   
09:08' AM - Thứ năm, 01/10/2009
Monday, 10 December 2007

DỰ ÁN


DỰ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC HIV/AIDS
TẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN II, 2001- 2006

Sự lãnh đạo và đầu tư trong cuộc chiến chống lại dịch HIV/AIDS (Global AIDS Program: Leadership and Investment in Fighting an Epidemic GAP - LIFE)

PHẦN I: THÔNG TIN KHÁI QUÁT VỀ DỰ ÁN

Tên dự án: Dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt nam
Giai đoạn II, 2001- 2006

Dự án hợp tác giữa Trung tâm dự phòng và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) và Uỷ ban Quốc gia Phòng chống AIDS và phòng chống TNMT, MD (NCADP) thông qua chương trình phòng chống AIDS toàn cầu:
"Sự lãnh đạo và đầu tư trong cuộc chiến chống lại dịch HIV/AIDS" (Global AIDS Program: Leadership and Investment In Fighting an Epidemic - LIFE).

Thời gian dự kiến bắt đầu: 07/2001

Thời gian dự kiến kết thúc: 07/2006

Cơ quan chỉ đạo điều phối: Uỷ ban Quốc gia PC AIDS và PCMT, MD

Cơ quan chủ quản Bộ Y tế

Cơ quan chủ trì thực hiện Văn phòng Thường trực Phòng chống AIDS

Cơ quan đồng thực hiện: Ban phòng chống AIDS Bộ Y tế; Ban chỉ đạo phòng chống AIDS và PCTNMT, MD các tỉnh thành phố được chọn; Các Viện nghiên cứu,Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hệ thống các viện Pasteur, Viện Y học Lâm sàng các bệnh nhiệt đới, Viện BVBMTSS, Viện nhi, Viện Da liễu Trung ương, Viện Huyết học truyền máu, Viện Lao và Bệnh phổi Trung ương v.v...

Cơ quan đối tác quốc tế: Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ

Địa bàn dự án: Cả nước

Nước hưởng dự án: Việt Nam

Thời gian 5 năm (2001- 2006)

Kinh phí dự án: 10.000.000 USD (Trung bình 2 triệu USD/năm). Cam kết cụ thể sẽ tuỳ thuộc vào đánh giá việc thực hiện hàng năm và tài chính có thể tăng thêm cho các năm tiếp theo tuỳ thuộc vào sự phát triển của dịch và khả năng mở rộng nguồn ngân sách của Quốc hội Hoa Kỳ cho chương trình LIFE.

Vốn Vốn đối ứng : 3 tỷ VNĐ ( 600.000.000 VNĐ tiền mặt/năm) chi cho hành chính phí của Trung ương và các tỉnh thành

PHẦN II: MÔ TẢ DỰ ÁN

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN


I. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (AIDS) ngày càng phát triển và trở thành đại dịch trên phạm vi toàn cầu gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhiều quốc gia trên thế giới.

(1) Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới (Phụ lục 6)

Theo số liệu của Chương trình phối hợp của Liên hiệp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) cho thấy dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục gia tăng ở nhiều nơi trên thế giới. Tính đến tháng 12/2000, toàn cầu có khoảng 36,1 triệu người nhiễm HIV/AIDS. Trong đó có 34,7 triệu người lớn (16,4 triệu là phụ nữ) và 1,4 triệu trẻ em. Từ năm 1981 đến cuối năm 2000, toàn thế giới đã có 21,8 triệu người chết do AIDS, trong đó có 17,5 triệu người lớn (9 triệu phụ nữ) và 4,3 triệu trẻ em. Đặc biệt số bệnh nhân AIDS chết trong năm 2000 lên đến 3 triệu người.
Trong thập niên 80 và đầu những năm 90, dịch HIV/AIDS bùng nổ chủ yếu tại khu vực cận Sahara, châu Phi. Tuy nhiên, trong 5 năm qua dịch HIV/AIDS đang chuyển dần trọng điểm từ Châu Phi sang Châu Á. Theo dự báo của UNAIDS, trong những năm đầu thế kỷ 21, dịch sẽ bùng nổ mạnh mẽ tại khu vực này. Đặc biệt là các nước Nam Á, Đông Nam Á như: ấn Độ, Thái Lan, Căm pu chia, Việt Nam v.v...
Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, tính đến cuối năm 1999 đã có 116.568 trường hợp nhiễm HIV; 24.156 bệnh nhân AIDS và 11.913 ca tử vong do AIDS.
Tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á, tính đến tháng 12/1999:
- Thái lan: có 755.000 trường hợp nhiễm HIV.
- ấn Độ: có 3.700.000 trường hợp nhiễm HIV
- Malaysia: có 49.000 trường hợp nhiễm HIV
- Campuchia: có 220.000 trường hợp nhiễm HIV
Như vậy, AIDS là một thách thức không chỉ bó hẹp ở bất kỳ một quốc gia nào mà thực sự trở thành vấn đề của toàn cầu. Nhận thức được điều đó, vấn đề AIDS đã được đưa ra bàn bạc và thảo luận ngày càng nhiều tại nhiều phiên họp của Liên Hiệp Quốc, các Hội nghị Thượng đỉnh Quốc gia, và gần đây được đưa vào một trong các vấn đề ưu tiên cấp bách của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc.
Cùng với sự hiện diện của Chương trình Phòng chống Liên Hiệp Quốc (UNAIDS), các quốc gia đã liên kết và hỗ trợ chặt chẽ với nhau trong cuộc chiến chống lại dịch AIDS. Hàng loạt các tổ chức Chính phủ, Phi Chính phủ cũng đã triển khai một loạt các hoạt động chăm sóc, dự phòng nhằm giảm thiểu đến mức tối đa tác hại của dịch AIDS lên toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển, nơi dịch đang bùng nổ.
Cùng với xu hướng chung của toàn cầu và của khu vực, Việt nam cũng đang là một trong các điểm nóng của đại dịch

(2). Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam (phụ lục 6)

Theo số liệu báo cáo, tại Việt nam, tính đến 11/4/2000 số nhiễm HIV/AIDS luỹ tích là 33.797 người, trong đó 5.110 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 2.684 trương hợp đã tử vong. Khoảng 75% số ca chính thức được ghi nhận kể từ năm 1997. Số ca được ghi nhận chỉ chiếm một phần rất nhỏ của con số thực tế người nhiễm tại Việt Nam. Đến cuối năm 2000, Bộ Y tế ước tính có khoảng 120,000 người nhiễm HIV tại Việt Nam và con số ước tính vào năm 2005 sẽ là 200,000 trường hợp.
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với 6.992 trường hợp nhiễm HIV/AIDS tính đến cuối tháng 03/2001, trong đó có 1.018 bệnh nhân AIDS và 492 người chết vì AIDS. Khoảng 70% số trường hợp nhiễm HIV là người nghiện chích ma tuý. Nam giới chiếm 82,6% tổng số trường hợp.
Khác với tình hình dịch ở Thái Lan, tại Việt Nam, nhiễm HIV trong nhóm gái mại dâm chỉ chiếm 3,94% và tân binh chiếm 1,25% số trường hợp được báo cáo. Tuy nhiên, do số liệu giám sát chưa đầy đủ nên có thể chưa phát hiện ra sự lây truyền mạnh trong nhóm này. Trong khi số liệu còn hạn chế, dự báo của Tổ chức Y tế thế giới cho rằng nếu không kiểm soát thì dịch sẽ tiến triển nhanh với số người nhiễm HIV mới sẽ lên đến 357.000 người vào năm 2005
Có hai xu hướng dịch chủ yếu ở Việt Nam: lây nhiễm có liên quan đến sử dụng ma tuý, xu hướng này xảy ra tại nhiều vùng trên toàn quốc nhưng tập trung chủ yếu tại các tỉnh thành lớn phía Bắc như Quảng Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn và Hà Nội. Tại các tỉnh phía Nam, việc lây nhiễm HIV lan nhanh theo 2 đường lây song hành: lây nhiễm qua đường tình dục khác giới và tiêm chích ma tuý. Các tỉnh gần hoặc giáp biên giới với Campuchia như An Giang, Kiên Giang và Cần Thơ có tỉ lệ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục khác giới rất cao. Tại các tỉnh trên số người nhiễm nam và nữ cao tương đương nhau trong khi tỉ lệ nữ nhiễm HIV chung trên toàn quốc khoảng 13%. Điều này có quan hệ mật thiết với tình trạng buôn bán và hoạt động mại dâm qua lại biên giới Campuchia- Việt Nam.
Như vậy, về tình hình HIV/AIDS ở Việt Nam chúng ta có một số nhận định như sau:
- Việt Nam đang nằm trong giai đoạn tập trung của dịch với tỷ suất nhiễm còn tương đối thấp nhưng đang trên đà gia tăng
- Nhiễm HIV ở Việt Nam chủ yếu và đang lan truyền nhanh chóng ở những người nghiện chích ma túy với hành vi nguy cơ lây nhiễm là dùng chung bơm kim tiêm chiếm 64,55% tổng số nhiễm được báo cáo và tỷ suất hiện nhiễm trong nhóm NCMT là 21,39% qua giám sát trọng điểm.
- Dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục lan nhanh trên phạm vi toàn quốc. Nhiễm HIV không chỉ còn khu trú ở khu vực đô thị mà đã lan rộng ra khu vực ít giao lưu như những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Điều đáng lưu ý là HIV/AIDS đã và đang lan nhanh chóng ra các cộng đồng dân cư bình thường như học sinh, sinh viên, công nhân lao động, công chức, người làm nghề tự do. Đây chính là vấn đề cấp bách cần sớm được quan tâm giải quyết.
- Nhiễm HIV qua con đường hoạt động tình dục ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu long và các tỉnh sát biên giới Campuchia. Một số công trình nghiên cứu đã chứng tỏ có mối liên quan chặt chẽ giữa TCMT và QHTD của gái mại dâm và nhóm NCMT trẻ đang ở độ tuổi có nhu cầu cao trong hoạt động tình dục.
- Lây nhiễm HIV chủ yếu xẩy ra ở những người trẻ (20-29 tuổi) và đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Đây cũng chính là yếu tố làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức sản xuất, lực lượng bảo vệ tổ quốc, giống nòi và gây hậu quả xấu đến sự phát triển kinh tế-xã hội.

Như vậy, ở Việt nam, đại dịch AIDS đã trở thành một thách thức lớn đối với việc phát triển kinh tế xã hội, giá trị văn hoá và truyền thống quốc gia. Để đáp ứng với tình hình, ngay từ đầu vụ dịch, Chính phủ Việt nam đã coi AIDS không chỉ là vấn đề về y tế mà còn là vấn đề xã hội, đòi hỏi toàn dân, tất cả các ngành, các cấp cùng tham gia ngăn ngừa và dự phòng. Một loạt các chính sách và các biện pháp mạnh mẽ, toàn diện ra đời của chính phủ Việt nam đã góp phần làm chậm lại quá trình phát triển dịch trong những năm qua. Tuy nhiên, bên cạnh các nguồn đầu tư của chính phủ chúng ta cần phải có thêm các nguồn hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ bên ngoài để công cuộc phòng chống AIDS tại Việt nam nói riêng cũng như khu vực nói chung thật sự mang lại hiệu quả cao.

II. Đáp ứng của Chính phủ Việt nam

1. Về Chính sách
Nhận thức rõ tính chất nghiêm trọng của dịch, ngay từ đầu những năm 1990, Chính phủ Việt nam đã có những đáp ứng nhanh chóng và mạnh mẽ trước những thách thức của dịch HIV/AIDS. Đảng và Nhà nước đã có những quan tâm chỉ đạo cụ thể bằng các văn bản pháp quy: Chỉ thị 20, chỉ thị 52-CT/TW ngày 11/03/1995 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Pháp lệnh phòng chống nhiễm vi rút HIV/AIDS ngày 31/05/1995 của Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh; Nghị định 34/CP ngày 01/06/1996 của Thủ tướng Chính phủ đã thể hiện sự cam kết chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong công tác phòng chống HIV/AIDS. Uỷ ban Quốc gia phòng chống AIDS nay là Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS và PCMT, MD đã được thành lập để thống nhất chỉ đạo công tác phòng chống HIV/AIDS trên phạm vi cả nước.
Với sự phối hợp của nhiều Bộ, ngành và các đoàn thể xã hội như MTTQ, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam v.v... chúng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhiều tầng lớp cộng đồng dân cư chủ động tham gia phòng chống AIDS.
Trong những năm qua, tuy nguồn ngân sách quốc gia còn hạn hẹp, phần kinh phí dành cho các chương trình xã hội không lớn, nhưng hàng năm Chính phủ đã dành một nguồn lực đáng kể (khoảng 4-5 triệu đô la Mỹ) cho chương trình phòng chống AIDS.
Nhận thức được tính chất nghiêm trọng và tác động to lớn của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế xã hội, Uỷ ban Quốc gia Phòng chống AIDS (nay là Uỷ ban QGPC AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm) đã sớm xây dựng kế hoạch chiến lược phòng chống AIDS ở Việt Nam giai đoạn 1994-2000 và đang tiếp tục xây dựng chiến lược cho giai đoạn 2000-2005 (Phụ lục 8), trong đó coi dự phòng HIV là một ưu tiên quan trọng. Chiến lược đã đưa ra 3 mục tiêu chính:
- Hạn chế tốc độ lây truyền HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư
- Làm chậm quá trình tiến triển của HIV thành AIDS
- Làm giảm tác hại của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế xã hội



2. Về chuyên môn

(1) Trong lĩnh vực xã hội:
Công tác phòng chống AIDS ngày càng được xã hội hoá, huy động ngày càng nhiều hơn các ban ngành, đoàn thể tham gia trực tiếp vào công tác PC AIDS. Tạo được dư luận quần chúng, thu hút được sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân, Chính quyền và các ngành, đoàn thể các cấp, các tổ chức tôn giáo cả về nhân lực, tài lực và vật lực.

(2) Trong lĩnh vực y tế: đã thu được kết quả nhất định trong công tác dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt nam:

Dự phòng HIV/AIDS:
- Tiến hành giám sát HIV bao gồm giám sát trọng điểm ở 21 tỉnh thành và giám sát phát hiện ở 61/61 tỉnh thành trong cả nước.
- Mạng lưới sàng lọc máu đã được thiết lập từ tuyến Trung ương, tuyến tỉnh đến tuyến huyện/thị. Từng bước được trang bị kỹ thuật, máy móc và sinh phẩm để tiến tới mục tiêu 100% các túi máu đều được sàng lọc HIV trước khi truyền.
- Triển khai rộng rãi hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông và huy động cộng đồng tham gia chương trình phòng chống AIDS thông qua truyền thông đại chúng, giáo dục học đường v.v...
- Triển khai thí điểm can thiệp dự phòng HIV trong một số nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao như nhóm nghiện chích ma tuý (trao đổi - sử dụng bơm kim tiêm sạch), trong nhóm gái mại dâm và lái xe đường dài (phân phát bao cao su, tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh) với mô hình giáo dục đồng đẳng.
- Bước đầu triển khai thí điểm công tác tư vấn và xét nghiệm tự nguyện dấu tên. Thực hiện quản lý - chăm sóc và tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS.

Chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS:
- Tổ chức mạng lưới chăm sóc hỗ trợ nhằm giúp đỡ người nhiễm HIV/AIDS cả về vật chất và tinh thần để tái hoà nhập với gia đình và cộng đồng.
- Định kỳ thăm khám và cấp phát thuốc điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
- Điều trị thí điểm các thuốc kháng Retrovirut.
- Thu dung, điều trị cho bệnh nhân AIDS trong giai đoạn cấp tại các bệnh viện đa khoa.
- Điều trị dự phòng cho các nhân viên y tế và cán bộ thi hành công vụ bị phơi nhiễm với HIV/AIDS, điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con.

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các chương trình dự phòng và chăm sóc y tế, điều trị HIV/AIDS và các dịch vụ xã hội khác, nhưng công cuộc phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam còn gặp rất nhiều hạn chế cả về kỹ thuật và nguồn lực. Từ thực tế này, đòi hỏi cần thiết có sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế. Chương trình phòng chống AIDS của Việt Nam trong những năm qua, bên cạnh những nỗ lực từ phía Chính phủ, đã nhận được sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật đáng kể từ nhiều cơ quan và tổ chức quốc tế khác.

III. Hỗ trợ từ phía các tổ chức Quốc tế.

1. Hỗ trợ đa phương

(1) Chương trình Phòng chống AIDS của Liên Hiệp quốc (UNAIDS)
UNAIDS tại Việt nam có vai trò phối hợp trong việc lập kế hoạch hoạt động hàng năm và điều phối hoạt động phòng chống AIDS trong khối các tổ chức liên hợp quốc tại Việt Nam.
UNAIDS cũng hỗ trợ các quốc gia xây dựng mạng lưới thông tin, thiết lập chương trìnhnghiên cứu, phân phối tài liệu truyền thông, xây dựng sự nhất quán đối với các đường lối quốc gia.
Ở Việt nam, UNAIDS tiến hành điều phối các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của 6 tổ chức Liên Hiệp Quốc: Quĩ Nhi Đồng LHQ, Chương trình Phát triển LHQ, Quĩ dân số LHQ, Chương trình Kiểm soát ma tuý LHQ, Tổ chức Y tế thế giới và Ngân hàng thế giới
Sự hỗ trợ tài chính từ UNAIDS trong các năm 1997-1998 và 1999-2000 cho các hoạt động phòng chống AIDS ở Việt Nam là 400.000 USD.

(2) Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP): hỗ trợ Việt Nam qua dự án "Nâng cao năng lực điều phối, lập kế hoạch và quản lý chương trình phòng chống AIDS", kinh phí 1.000.000 USD (1996-1998) nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và hoạch định chính sách về HIV/AIDS cho cán bộ PC AIDS

(3) Chương trình Kiểm soát ma tuý của Liên Hiệp Quốc (UNDCP): hỗ trợ Việt Nam với dự án kiểm soát ma tuý tập trung vào một số lĩnh vực như: Triệt phá việc trồng các cây là nguồn cung cấp ma tuý; Dự phònglạm dụng ma tuý, điều trị và các dịch vụ hỗ trợ cai nghiện; hỗ trợ trong việc phối hợp soạn thảo các văn bản pháp luật về ma tuý, xúc tiến sự hợp tác quốc tế trong kiểm soát ma tuý.
UNDCP đã giúp Chính phủ Việt nam 6 dự án hỗ trợ kỹ thuật. Một trong các Dự án đó là Dự án “Tăng cường năng lực quốc gia phòng chống lạm dụng ma tuý và HIV/AIDS trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao” nhằm giảm việc sử dụng ma tuý và khuyến khích việc thay đổi hành vi trong nhóm sử dụng ma tuý taị 5 tỉnh Thái Nguyên, Hà nội, Hải phòng, Nghệ An và Lạng Sơn. Dự án cũng giúp điều hoà chính sách phòng chống lạm dụng ma tuý với chính sách dự phòng HIV/AIDS cũng như hỗ trợ các nhà lãnh đạo các cấp mở rộng và điều phối chương trình dự phòng HIV và ma tuý dựa vào cộng đồng.

(4) Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
WHO đã và đang hỗ trợ trong lĩnh vực dịch tễ học HIV/BLTQĐTD và lồng ghép vào chương trình Quốc gia phòng chống HIV/AIDS. WHO cũng cấp kinh phí cho các hội thảo, học bổng và các đoàn khảo sát cho những người đang hoạt động trong lĩnh vực PC AIDS
(5) Quĩ hỗ trợ Nhi đồng Quốc tế (UNICEF)
UNICEF đang hỗ trợ triển khai Dự án “Sức khoẻ thanh niên và phát triển và dự phòng HIV/AIDS ”. Đây là một phần của Dự án khu vực sông Mekong, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và Hội chữ thập đỏ Việt nam, tập trung vào đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên 10- 18 tuổi. Dự án nhằm giảm số mới mắc do lây truyền HIV bằng cách phát triển và đưa ra chương trình về Kỹ năng sống cho các em trong nhà trường và ngoài trường học.
(6) Quĩ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA)
UNFPA tiến hành lồng ghép các tài liệu về HIV/AIDS vào trong các chương trình TT-GD-TT của mình cũng như chương trình đào tạo cán bộ y tế các cấp tại 8 tỉnh trọng điểm. UNFPA tiến hành hỗ trợ chương trình chăm sóc sức khoẻ, bao gồm HIV/AIDS. UNFPA cũng giúp Bộ Giáo dục và Đoàn Thanh niên về vấn đề phòng chống HIV/AIDS thông qua dự án ‘Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên”

(7) Ngân hàng thế giới (WB)
WB đang lập kế hoạch tiến hành nghiên cứu về tác động kinh tế của dịch HIV/AIDS ở Việt nam và hỗ trợ Chính phủ trong việc cung cấp và truyền máu an toàn cũng như các hoạt động lồng ghép phòng chống HIV/AIDS với công tác dân số kế hoạch hoá gia đình ở 38 tỉnh trọng điểm thông qua 2 dự án do Bộ Y tế và UBQG Dân số thực hiện.

2. Hỗ trợ từ các tổ chức phi Chính phủ quốc tế:

(1) DKT Quốc tế
DKT thực hiện việc tiếp thị và phân phối bao cao su để thúc đẩy dự phòng HIV/AIDS và kế hoạch hoá gia đình

(2) CARE Quốc tế: Tổ chức phòng chống AIDS tại các doanh nghiệp. Huy động các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia công tác PC AIDS

(3) Ngoài ra, chương trình phòng chống AIDS của Việt Nam còn nhận được sự giúp đỡ về tài chính cũng như kỹ thuật đáng kể từ các tổ chức phi Chính phủ quốc tế khác như: For Foundation, Population Council, PDI-Asia, Australian Red Cross, World Vision International, SCF-UK v.v...Ngoài các hỗ trợ về công tác phòng chống AIDS, các tổ chức đã giúp một số học bổng đi học tập và tham quan, hội nghị ở nước ngoài

3. Hỗ trợ song phương:

(1) Dự án Hợp tác Kỹ thuật Việt Đức (GTZ)
GTZ hỗ trợ Chính phủ Việt nam dự án “phòng chống HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục” để làm giảm nguy cơ lan truyền HIV, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và làm giảm tác động về kinh tế và xã hội của dịch đối với một số tỉnh dự án ở miền bắc Việt nam. Mục tiêu của dự án là: Thúc đẩy và hỗ trợ các hành vi an toàn nhằm làm giảm sự lây truyền HIV/AIDS; Thực hiện các biện pháp dự phòng, chẩn đoán và liệu pháp điều trị cho các BLTQDTD; quản lý và điều phối dự án có hiệu quả. Kinh phí dành cho giai đoạn II của dự án là 357.000USD (1998- 2000), triển khai tại 4 tỉnh Hà nội, Lào cai, Ninh bình, Quảng Ninh. tại mỗi tỉnh, dự án đã thí điểm 1-2 phương mô hình tư vấn và GDDD.

(2) Quĩ hỗ trợ úc (ausAID)
ausAID hỗ trợ Việt Nam dự án "Nâng cao năng lực điều phối, lập kế hoạch và quản lý chương trình phòng chống AIDS giai đoạn 2 với kinh phí là 820.000USD. Giai đoạn 2 của Dự án được thực hiện tại 3 tỉnh Lạng Sơn, Hải Dương và Đà nẵng nhằm tăng cường khả năng lập kế hoạch, quản lý và điều phối các hoạt động của Chương trình Phòng chống AIDS.
(3) Những hỗ trợ của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam trong chương trình phòng chống AIDS.
Chính phủ Hoa Kỳ có hai chương trình chính, và thông qua đó những hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật được cung cấp cho Việt Nam.

a. Chương trình thứ nhất được USAID tài trợ thông qua tổ chức Sức khoẻ Gia đình quốc tế (FHI) và dịch vụ dân số quốc tế (PSI). FHI đang giúp đỡ phát triển các can thiệp dự phòng HIV tại 4 tỉnh (Quảng Ninh, Bình Định, Hải Phòng và Cần Thơ) và giám sát hành vi tại 5 tỉnh thí điểm (Hà nội, Đà nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Cần Thơ). PSI đang tiến hành chương trình toàn quốc về tiếp thị xã hội bao cao su (social marketing of condoms). Kinh phí dành cho Dự án hợp tác giữa FHI và Văn phòng TTPC AIDS trong giai đoạn II là 2.764.763 USD.

b. Chương trình thứ hai được triển khai thông qua CDC với Dự án Dự phòng HIV/AIDS tại Việt nam, giai đoạn I, 1999- 2001.

Hợp tác giữa Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ và Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS (nay là Uỷ ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm) đã chính thức có hiệu lực trong tuyên bố chung về dự phòng HIV/AIDS được ký tại Hà Nội vào ngày 8 tháng 12 năm 1997. Sự hợp tác này cũng có hiệu lực trong bản thoả thuận hợp tác có quy mô rộng lớn hơn giữa 2 chính phủ Việt nam và Hoa Kỳ thông qua Tuyên bố chung của Bộ trưởng Bộ Y tế 2 nước được ký ngày 08/12/1997 (Phụ lục 1).

Dự án Dự phòng lây nhiễm HIV tại Việt nam giai đoạn I, 1999- 2001 tập trung vào 2 lĩnh vực

- Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ thuật cho cán bộ làm công tác phòng chống AIDS tại Việt nam:
Dự án đã tổ chức 8 lớp tập huấn với trên 400 bác sĩ và cán bộ làm việc trong lĩnh vực PC HIV/AIDS ở Việt Nam về dịch tễ học, giám sát và dự phòng HIV/AIDS. Nội dung của các khoá huấn luyện tập trung vào:
+ Lập kế hoạch và xây dựng chương trình,
+ Tổ chức thực hiện chương trình, giám sát, dự phòng và chăm sóc HIV
+ Thống kê y học, phương pháp tính toán và cải thiện hệ thống báo cáo số liệu
+ Kỹ năng tư vấn...

- Triển khai các nghiên cứu tác nghiệp: Đã có hơn 10 dự án nghiên cứu tác nghiệp về dịch tễ học được triển khai. Những dự án này được thực hiện trên các lĩnh vực:
+ Đánh giá hệ thống giám sát HIV/AIDS ở các tỉnh Quảng Ninh, Khánh Hoà, Bà Rịa - Vũng Tàu, An Giang và TP. Hồ Chí Minh.
+ Đánh giá các hành vi nguy cơ của những người tiêm chích ma tuý (IDU), tân binh, các bệnh nhân STDs ở Quảng Ninh và những người hành nghề mại dâm ở Nha Trang.
+ Phát triển những chỉ dẫn về xây dựng tiêu chuẩn cho một chương trình dự phòng toàn diện HIV ở Việt Nam
+ Ước tính tỷ lệ mới nhiễm HIV ở các tỉnh thành
+ Đánh giá biểu hiện lâm sàng trong những bệnh nhân HIV/AIDS được điều trị ở các bệnh viện tại Hà Nội
+ Đánh giá thực trạng chương trình GDDD và năng lực các phòng xét nghiệm ở Việt nam

Các nghiên cứu được các Viện đầu ngành (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới..) và một số Ban phòng chống AIDS các tỉnh thành tích cực tham gia đã góp phần xây dựng bức tranh khái quát về tình hình và nguy cơ của dịch HIV/AIDS hiện nay tại Việt nam. Những phát hiện từ các nghiên cưu trên sẽ được sử dụng để tăng cường nỗ lực dự phòng HIV trên phạm vi toàn quốc và hoạch định hoạt động cho Dự án giai đoạn II.

Sau 2 năm thực hiện, tháng 11/2000 và tháng 3/2001, CDC và Bộ Y tế Việt nam đã tổ chức kiểm tra, đánh giá lại Dự án giai đoạn I và lượng gía các nhu cầu cần hỗ trợ cho chương trình Phòng chống HIV/AIDS ở Việt nam trong tương lai. Hai bên đã nhất trí rằng Dự án Dự phòng HIV/AIDS tại Việt Nam giai đoạn I, 1999- 2001 đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc làm giảm sự lan truyền của đaị dịch HIV/AIDS trong cộng đồng nhân dân Việt Nam và cần có một chương trình hỗ trợ bền vững, lâu dài và ổn định tiếp theo cả về kỹ thuật và tài chính cho chương trình phòng chống AIDS tại Việt nam. (Đánh giá kết quả giai đoạn 1- phụ lục 1)

Dựa vào những kết quả thu được của Dự án giai đoạn I, dựa vào thực trạng và điều kiện sẵn có hiện nay tại Việt Nam, Văn phòng TTPC AIDS- Bộ Y tế và Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh Hoa Kỳ xây dựng tiếp giai đoan II của dự án Dự phòng, chăm sóc HIV tại Việt nam nhằm giảm thiểu hơn nữa tác động của đại dịch HIV/AIDS tại Việt Nam. Trong giai đoạn II, 2001- 2006, các ưu tiên được lựa chọn sẽ tập trung vào
- Triển khai các chương trình Dự phòng cơ bản
- Tăng cường chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV và các dịch vụ có liên quan
- Phát triển năng lực cán bộ và cơ sở hạ tầng
(Bản cam kết của CDC- Chương XI)

Dự án này nằm trong Chương trình phòng chống AIDS toàn cầu có tiêu đề “Sự lãnh đạo và đầu tư trong cuộc chiến chống lại dịch AIDS”. Sáng kiến này là sự phối hợp của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), CDC và các cơ quan của chính phủ Hoa Kỳ (USG) nhằm tăng cường phạm vi và hiệu quả của các nỗ lực mang tính toàn cầu để dự phòng HIV và giảm gánh nặng của AIDS. Hiện nay có 24 quốc gia có đủ điều kiện để nhận được hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của chương trình LIFE, trong đó Thái lan, Việt nam và Campuchia là 3 Quốc gia được dự kiến đưa vào giai đoạn 2001- 2006.

CHƯƠNG II. SỰ CẦN THIẾT CỦA DỰ ÁN DỰ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM

Chương trình phòng chống AIDS Việt Nam hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu nguồn lực và chuyên môn kỹ thuật. Chính vì vậy, chưa thể tiến hành việc lượng giá và đánh giá một cách quy mô và khoa học về tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam nhằm giúp Chính phủ hoạch định những chính sách dài hạn và đề xuất các hoạt động can thiệp có hiệu quả phù hợp với với tình hình dịch đang phát triển nhanh ở Việt Nam. Thông qua các đánh giá của Chính phủ và khảo sát của Dự án giai đoạn 1 cho thấy những khó khăn hiện nay chương trình phòng chống AIDS Việt Nam đang gặp phải là:

(1) Về chuyên môn kỹ thuật

- Lực lượng cán bộ làm công tác phòng chống AIDS còn mỏng, phần lớn là kiêm nhiệm, do vậy không thể đáp ứng được với những đòi hỏi và nhu cầu của công tác phòng chống AIDS trong tình hình diễn biến nhanh và phức tạp của dịch HIV/AIDS như hiện nay.
- Một số chương trình dự phòng như giáo dục đồng đẳng, xét nghiệm và tư vấn dấu tên....đã được triển khai và có hiệu quả tuy nhiên do hạn chế về nguồn lực và nhân lực nên mức độ bao phủ của chương trình vẫn còn rất hạn chế
- Công tác tư vấn hầu như chưa được thực hiện, chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi về tư vấn, cán bộ chưa được đào tạo, chưa có chế độ bồi dưỡng cho các tư vấn viên. Công tác thông tin giáo dục truyền thông chưa được triển khai mạnh mẽ ở tuyến cơ sở.
- Mạng lưới quản lý, chăm sóc và tư vấn tại cộng đồng chưa được triển khai mạnh mẽ, chưa có sự phân công các ban ngành, đoàn thể, sự biến động của người nhiễm, hiện tượng phân biệt đối xử của cộng đồng còn khá cao nên hiệu quả công tác này chưa cao.
- Quy định dự phòng phổ cập chưa được tuân thủ nghiêm ngặt, công tác tiệt trùng phòng lây nhiễm HIV trong các dịch vụ y tế chưa được thực hiện nghiêm túc, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở và y tế tư nhân. Nguyên nhân khách quan và chủ yếu là thiếu thốn trang thiết bị và các nhân viên y tế chưa được tập huấn kỹ về lĩnh vực này.
- Các chế độ chính sách cho cán bộ làm công tác dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS, chế độ bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp cho cán bộ y tế và một số chế độ chính sách có liên quan đến HIV/AIDS chưa được xây dựng hoặc chưa hoàn thiện.
- Mạng lưới điều trị mới chỉ được hình thành ở một số tỉnh, thành phố lớn. Việc tiếp nhận bệnh nhân vào điều trị tại bệnh viện gặp nhiều khó khăn: chưa có phòng riêng biệt, dùng chung các dụng cụ với bệnh nhân khác, bệnh nhân nghèo không có tiền chi trả viện phí, chế độ bồi dưỡng chưa được thích hợp.
- Công tác thông tin báo cáo chưa được cập nhật kịp thời, báo cáo nhiều khi không chính xác.
- Việc giám sát bệnh nhân AIDS chưa thống nhất về tiêu chuẩn và chưa theo một hệ thống báo cáo rõ ràng.

- Còn nhiều hạn chế trong việc đầu tư nâng cấp phòng xét nghiệm chuẩn thức quốc gia để có thể thực hiện được những kỹ thuật cao phụ vụ cho nghiên cứu về dịch tễ học phân tử nhiễm HIV ở Việt Nam.
- Kỹ thuật sàng lọc HIV ở ta còn ở trình độ thấp. Chưa có điều kiện để ứng dụng các kỹ thuật truyền máu hiện đại: truyền máu từng phần, truyền máu tự thân...
- Chưa thiết lập được hệ thống giám sát các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD), các báo cáo số liệu về các bệnh LTQĐTD mới chỉ dừng ở mức độ ghi nhận các trường hợp, chưa đưa ra được tỷ lệ nhiễm trên từng quần thể dân chúng để có kế hoạch can thiệp.

(2). Về nguồn lực

Kinh phí Nhà nước cấp cho công công tác phòng chống AIDS còn hết sức hạn hẹp, trong khi một phần không nhỏ phải dành để mua trang thiết bị, sinh phẩm. Chi phí về y tế như đảm bảo an toàn truyền máu và điều trị bệnh nhân AIDS hết sức tốn kém nên phần kinh phí dành cho công tác can thiệp dự phòng bao gồm cả can thiệp dự phòng xã hội và can thiệp dự phòng y tế, đào tạo lại cán bộ chưa được đầu tư thỏa đáng. Các kinh phí đào tạo nâng cao về quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách hầu như không có.
Chính phủ Việt Nam ước tính rằng, tổng đóng góp tài chính hàng năm từ các hợp tác song phương, đa phương và các tổ chức quốc tế cho nỗ lực Phòng chống AIDS Quốc gia vào khoảng 2-3 triệu đô la Mỹ. Tuy nhiên, các nguồn tài chính trên thường được phân bổ chỉ cho những hoạt động hoặc nghiên cứu cụ thể hoặc mang tính địa phương. Rất nhiều dự án do quốc tế tài trợ không thể duy trì được khi dự án kết thúc. Do đó cần có nguồn trợ giúp tài chính, kỹ thuật lâu dài, ổn định để hỗ trợ cho chương trình chăm sóc và dự phòng HIV/AIDS.

Tóm lại: Thông qua những khó khăn trên, chúng ta nhận thấy còn một số vấn đề tồn tại lớn chưa giải quyết được nếu không có nguồn hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật lâu dài, vững bền và ổn định. Đó là:
a. Tăng cường hơn nữa cho công tác dự phòng HIV/AIDS tại Việt nam bao gồm các chương trình giáo dục đồng đẳng, xét nghiệm và tư vấn tự nguyện dấu tên.....Theo đánh giá của các chuyên gia trong nước và quốc tế thì Việt Nam vẫn nằm trong giai đoạn đầu của dịch HIV/AIDS nên việc triển khai các chương trình dự phòng là hết sức cần thiết và có hiệu quả trong việc ngăn ngừa lan tràn HIV ở Việt Nam.
b. Mở rộng và nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV.
c. Đẩy mạnh công tác đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ PC AIDS,
d. Phát triển cơ sở hạ tầng cho công tác phòng chống AIDS.
e. Bảo đảm công tác an toàn truyền máu: cung cấp đủ sinh phẩm, kịp thời cho công tác sàng lọc, xây dựng ngân hàng máu...
f. Nâng cao chất lượng giám sát dịch tễ học HIV/AIDS, chuẩn hoá các phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế để đủ điều kiện nghiên cứu sâu về HIV/AIDS tại Việt nam
g. Tăng cường và mở rộng công tác giám sát hành vi.
h. Đẩy mạnh công tác điều trị bệnh nhân AIDS
Tuy nhiên, trong khuôn khổ hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của chương trình LIFE, trong 5 năm đầu tiên chúng ta sẽ tập trung vào giải quyết 4 vấn đề lớn (a,b,c,d)
(3). Sự cần thiết hỗ trợ từ dự án Dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt nam giai đoạn II.

Bên cạnh các chương trình được tài trợ và hỗ trợ về tài chính của Chính phủ Hoa Kỳ, các chính phủ và các tổ chức quốc tế khác cũng đang trợ giúp cho những nỗ lực dự phòng và nghiên cứu HIV ở Việt Nam. Các chương trình này bao gồm cả can thiệp dự phòng xã hội và can thiệp dự phòng y tế, đào tạo lại, nâng cao về quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách.
Nhiều chương trình và hoạt động PC HIV/AIDS đã được triển khai và đã có nhiều ví dụ về chương trình thành công. Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn lực nên qui mô và mức độ bao phủ của chương trình vẫn còn rất hạn chế. Hơn thế nữa, hiệu quả của các dịch vụ thường không được biết rõ. Ví dụ, một đánh giá về chương trình giáo dục đồng đẳng do NASB tiến hành với sự hỗ trợ của CDC đã cho thấy 21 tỉnh hiện có chương trình giáo dục đồng đẳng. Nhiều tỉnh có số ca nhiễm HIV được báo cáo cao nhất không có chương trình này. Còn trong số những tỉnh có chương trình này thì lại có rất ít đồng đẳng viên đang cố gắng cung cấp dịch vụ cho một số lớn những người có nguy cơ cao.
Tuy nhiên hiện tại chúng ta vẫn còn thiếu một nguồn lực lớn cả về kỹ thuật và tài chính để đạt được một chương trình dự phòng đủ lớn nhằm đi đến thành công trong việc làm giảm đáng kể mức độ lây nhiễm HIV hiện nay và vì vậy rất cần thiết có sự hỗ trợ kỹ thuật tài chính và kéo dài nhiều năm từ nhiều nguồn lực của các tổ chức quốc tế.
Trong giai đoạn I (1999-2001), Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ - CDC đã hỗ trợ Việt Nam một dự án nhỏ ban đầu với tổng số kinh phí 400.000 USD. Sau 2 năm đánh giá lại, cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ đều nhận định dự án đã triển khai một cách nghiêm túc đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao.
Dự kiến trong giai đoạn II (2001-2006), Chính phủ Hoa Kỳ sẽ mở rộng sự hợp tác và hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống AIDS cả về kỹ thuật và nguồn lực với dự án LIFE.
Chương trình LIFE Việt Nam đã xác định những lĩnh vực ưu tiên cụ thể cần hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ phía Hoa Kỳ. Những ưu tiên này phù hợp chặt chẽ với công tác dự phòng, chăm sóc và hỗ trợ cơ sở hạ tầng hoạt động. Quốc hội Hoa Kỳ đã dành nguồn ngân sách đáng kể trong năm tài khoá 2001 cho cả USAID và CDC. Tuy nhiên, tài liệu này chỉ đề cập đến kế hoạch làm việc của CDC với chính phủ Việt Nam nhằm tăng cường nỗ lực dự phòng HIV. USAID cũng sẽ tăng cường hỗ trợ nhưng sẽ phát triển kế hoạch của họ sau này. Tất cả các kế hoạch và hoạt động của CDC sẽ được điều phối cũng với Cục phát triển Quốc tế Hoa Kỳ và các tổ chức Quốc tế khác đã tham gia vào nỗ lực dự phòng HIV ở Việt Nam.

Các nhu cầu ưu tiên đã được xác định bao gồm:
- Các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện;
- Các chương trình giáo dục đồng đẳng mở rộng;
- Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con;
- Chăm sóc HIV, đặc biệt là chăm sóc, chẩn đoán và điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội dựa vào gia đình;
- Giám sát và điều trị các bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục (STI);
- Chẩn đoán và điều trị lao có liên quan với nhiễm HIV;
- Bảo vệ các nhân viên Y tế và chấp hành dự phòng phổ quát.
Các quần thể ưu tiên được cung cấp các dịch vụ dự phòng HIV bao gồm: những người nghiện chích ma tuý (NCMT), gái mại dâm (GMD) và những người nhiễm HIV cùng bạn tình của họ.
Văn phòng TTPC AIDS đã đề nghị CDC tiếp tục chương trình đào tạo dự phòng HIV và nghiên cứu dịch tễ học, nghiên cứu tác nghiệp và giúp đỡ việc giám sát, đánh giá các hoạt động đã được thực hiện và các dịch vụ đã được cung cấp. Chính phủ Việt Nam cũng đảm bảo duy trì ở mức độ cao nhất và phát triển, triển khai và giám sát các hệ thống để đảm bảo và cung cấp các giải trình về tài chính và loại trừ mọi khả năng có thể xảy ra thất thoát., lãng phí và lạm dụng việc tài trợ và các nguồn lực khác do Chính phủ Hoa Kỳ trợ giúp.
Qúa trình trao đổi và thảo luận giữa hai Chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ trong việc Hoa Kỳ hỗ trợ Việt Nam về kỹ thuật và tài chính nhằm tăng cường và mở rộng các hoạt động y tế và phòng chống AIDS ở Việt Nam đã được Bộ trưởng Bộ Y Việt Nam Đỗ Nguyên Phương và Bộ trưởng Y tế Hoa Kỳ Donna E. Shalala ký ngày 8 tháng 12 năm 1997.
Các nội dung hợp tác về PC AIDS ở Việt Nam cũng được thể hiện cụ thể tại bản ký kết tuyên bố chung về dự phòng nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam giữa CDC và Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm ngày 8 tháng 12 năm 1997. Toàn bộ nội dung hợp tác và văn kiện dự án giai đoạn I (1999-2001) đã được các cơ quan hữu quan và Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 14/12/1999.
Trong giai đoạn II từ năm 2001 đến 2006, Chính phủ Hoa Kỳ dự kiến sẽ mở rộng sự hợp tác và hỗ trợ Việt nam trong lĩnh vực Phòng chống AIDS cả về kỹ thuật và nguồn lực thông qua chương trình PC AIDS toàn cầu với dự án LIFE. Kinh phí khoảng 2.000.000 USD mỗi năm và đã được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cả về nội dung và kinh phí trong tài khoá 2001.

(4) Tính bền vững của Dự án Dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt nam giai đoạn II.

Dự án Dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt nam giai đoạn II sẽ được thực hiện trong 5 năm với kinh phí, qui mô và mức độ che phủ lớn nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực phòng chống AIDS. Với chủ trương hỗ trợ nhưng không thay thế các hoạt động của Chính phủ Việt nam, Dự án sẽ thực hiện và trợ giúp lâu dài, ổn định cả về kỹ thuật và tài chính trên một số lĩnh vực mà Việt nam hiện còn thiếu hoặc yếu. Tính bền vững này sẽ được thể hiện trên một số khía cạnh sau:

- Về nhân lực:

+ Đối với cán bộ Dự án và cán bộ chuyên trách PC AIDS tuyến trung ương và địa phương: Việc thường xuyên tiếp xúc với các chuyên gia giàu kinh nghiệm của CDC (Hoa Kỳ) và Việt nam sẽ giúp các cán bộ PC AIDS Việt nam nói chung và đội ngũ cán bộ tham gia Dự án nói riêng mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao kiến thức và kinh nghiệm tiên tiến của các quốc gia trên thế giới. Trong kế hoạch hoạt động của mình, Dự án sẽ đào tạo mạng lưới giảng viên chủ chốt tuyến trung ương và tuyến tỉnh, đào tạo về quản lý dự án cho các nhân viên tham gia dự án, tham gia hỗ trợ cho các cán bộ phòng chống AIDS Việt nam đi tham quan và học tập ngắn hạn và dài hạn tại nước ngoài .

+ Đối với các cán bộ chuyên môn được lựa chọn trực tiếp tham gia vào hoạt động Dự án tại các địa phương: Dự án sẽ tập trung vào đào tạo kiến thức và kỹ năng trên nhiều lĩnh vực cho các cán bộ được lựa chọn tham gia các hoạt động, bao gồm: các bác sĩ tại các bệnh viện chuyên ngành, các kỹ thuật viên, tư vấn viên.... Chính các cán bộ này sẽ là mạng lưới nòng cốt triển khai các hoạt động phòng chống AIDS không chỉ trong khuôn khổ Dự án mà còn bao gồm các hoạt động khác trong chương trình PC AIDS của Chính phủ hiện nay và cho các năm tiếp sau.

+ Đối với các đối tượng được hưởng lợi từ Dự án: Các đối tượng này sẽ được tham gia vào các hoạt động của Dự án như chăm sóc điều trị, tư vấn, xét nghiệm...Với các mô hình hoạt động được thiết lập mang tính rộng khắp, tập trung, đồng bộ, đặc biệt trong đối tượng có nguy cơ cao như xây dựng mạng lưới đồng đẳng viên tại 40 tỉnh thành, Dự án sẽ góp phần đáng kể vào việc phát triển và duy trì mạng lưới đồng đẳng, một phương thức tiếp cận và hoạt động rất hữu hiệu và mang lại hiệu quả lâu dài cho công tác dự phòng HIV/AIDS. Đây chính là những mô hình điểm sẽ được tham khảo và có thể nhân lên trong chiến lược phòng chống AIDS cuả Chính phủ Việt nam và các chương trình hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế khác.

- Về nguồn lực tài chính:
Với nguồn ngân sách hạn hẹp như hiện nay, việc chương trình LIFE hàng năm tài trợ 2 triệu đô la (bằng khoảng 50% ngân sách hàng năm của Chính phủ Việt nam) thông qua Dự án Dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt nam giai đoạn II đã hỗ trợ nguồn lực đáng kể để giải quyết các vấn đề cấp bách mà Việt nam chưa thực hiện được hoặc thực hiện chưa có hiệu quả do kinh phí hạn hẹp như giáo dục đồng đẳng, tư vấn xét nghiệm tự nguyện...
Đây chỉ là nguồn kinh phí cam kết ban đầu cho năm đầu tiên. Với các năm tiếp, Dự án sẽ có thể được điều chỉnh, tăng nguồn kinh phí đầu tư tuỳ theo tình hình dịch và hiệu quả hoạt động dự án.

- Về vật lực:
Trong giai đoạn II, CDC (Hoa Kỳ) sẽ cùng Chính phủ Việt nam tăng cường củng cố về cơ sở vật chất, cung cấp trang thiết bị, máy móc thuốc men cho mạng lưới phòng chống AIDS. Việc trang bị đồng bộ và đầy đủ cơ sở vật chất sẽ giúp cho các hoạt động được thực hiện có hiệu quả và duy trì ổn định, lâu dài.

Trước mắt, CDC (Hoa Kỳ) cam kết sẽ hỗ trợ chương trình dự phòng HIV/AIDS tại Việt nam trong 5 năm tiếp theo thông qua chương trình LIFE cùng với 24 quốc gia khác trên thế giới. Tuy nhiên, nếu Dự án thực hiện có hiệu quả, chương trình không chỉ dừng ở giai đoạn 5 năm mà sẽ tiếp tục duy trì và phát triển về lâu dài trong nhiều năm tiếp theo.

CHƯƠNG III. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN

Mục tiêu chung

Giảm sự lây nhiễm HIV thông qua các biện pháp dự phòng cơ bản và có hiệu quả; cải thiện việc chăm sóc, hỗ trợ và điều trị người nhiễm HIV và tăng cường các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cán bộ tham gia công tác phòng chống AIDS và các dịch vụ về AIDS tại Việt Nam.

2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Giảm tốc độ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, đặc biệt là trong các nhóm có nguy cơ cao tại Việt Nam bằng các biện pháp dự phòng cơ bản;

2.2. Mở rộng và nâng cao chất lượng chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại gia đình và bệnh viện.

2.3. Tăng cường năng lực hệ thống giám sát và quản lý HIV/AIDS.

Mặc dù đây chỉ là các hoạt động dự kiến trong năm đầu tiên nhưng đây là một chương trình kéo dài trong nhiều năm với các dự án kế tiến. Đồng thời các kế hoạch và dịch vụ trong dự án có thể sẽ thay đổi để đáp ứng với những phát hiện và nhu cầu nảy sinh qua quá trình đánh giá và giám sát. Ngoài ra, có thể một số dự án mới sẽ được tiến hành trong trường hợp có thay đổi các ưu tiên hoặc có thêm nguồn hỗ trợ tài chính và kỹ thuật. Các dự án mới nếu được tiến hành cũng sẽ được tổ chức phù hợp với LIFE.

CHƯƠNG IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Dư án sẽ bao gồm 3 giải pháp:
1. Dự phòng ban đầu
2. Nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị tại gia đình và tại bệnh viện
3. Phát triển năng lực và cơ sở hạ tầng

CHƯƠNG V. CÁC HOẠT ĐỘNG


A. NĂM THỨ NHẤT CỦA DỰ ÁN.

I. GIẢI PHÁP 1: DỰ PHÒNG BAN ĐẦU (850.000 USD)

Mục tiêu của giải pháp này là nâng cao chất lượng và mở rộng các chương trình dự phòng lây truyền HIV trong cộng đồng.


I.1. Hoạt động1: Mở rộng các chương trình tư vấn và xét nghiệm tự nguyện

Bộ Y tế và Văn phòng Thường trực Phòng chống AIDS đã xác định ưu tiên chính trong việc phát triển chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là thiết lập được mạng lưới tư vấn HIV/AIDS từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở bao gồm công tác đào tạo, giám sát và hỗ trợ các tư vấn viên để họ có điều kiện, trình độ, kỹ năng triển khai, cung cấp dịch vụ tư vấn dự phòng HIV và giới thiệu cho các đối tượng có nguy cơ cao.
Mục tiêu cơ bản của hoạt động này là phát triển và duy trì mạng lưới các tư vấn viên phòng chống HIV đã được đào tạo về chuyên môn tại Việt Nam. Bên cạnh đó, mạng lưới xét nghiệm HIV cũng sẽ được mở rộng thông qua việc lập nên các phòng xét nghiệm tự nguyện dấu tên tại các thành phố trọng điểm. Trong hệ thống này, các đối tượng được xét nghiệm có kết quả dương tính sẽ được đưa vào chương trình hỗ trợ và chăm sóc tại nhà.

Đầu vào dự kiến:
- 3 giảng viên trong nước và 4 giảng viên quốc tế;
- 4 chuyên gia tham gia biên soạn tài liệu chuyên sâu dành cho tư vấn viên;
- trang thiết bị, máy móc, địa điểm tiến hành đào tạo tư vấn viên và lập ra các phòng xét nghiệm tự nguyện giữ bí mật thông tin cá nhân.

Đầu ra dự kiến:
- 280 tư vấn viên được đào tạo về chuyên môn và kỹ năng tư vấn để triển khai chương trình. Các tư vấn viên là các cán bộ hiện làm việc tại các phòng tư vấn và các phòng xét nghiệm về HIV/AIDS

Địa bàn: 40 tỉnh có số nhiễm HIV cao và có nguy cơ bùng nổ dịch
1. Tp. Hồ Chí Minh 2. Quảng Ninh, 3. HảI Phòng, 4. Hà nội, 5. An giang,6. Lạng Sơn, 7. Đồng Nai,8. Hải Dương,9. Nghệ An, 10. Đồng Tháp 11. Bà rịa Vũng tàu,12. Khánh Hoà, 13. Cần Thơ, 14. Kiên Giang, 15. Thái Nguyên,16. Bắc Ninh 17. Sóc Trăng 18. Bắc giang19. Cao bằng 20. Thái Bình 21. Nam Định,22. Tây Ninh23. Thanh Hoá24. Tiền Giang 25. Vĩnh Long 26. Đà nẵng,27. Trà Vinh 28. Lâm Đồng 29. Bình Dương 30. Bình Thuận 31. Bình Định32. Long An33. Hà Tây34. Hoà Bình35. Bến Tre36. Gia lai 37. Sơn la38. Đăcklăk,39. Thừa Thiên- Huế40. Quảng Nam
- Thành lập được 10 dịch vụ xét nghiệm dấu tên được trang bị đầy đủ trang thiết bị, test kit và nhân lực. Các xét nghiệm viên được đào tạo là những nhân viên xét nghiệm có kinh nghiệm được huy động từ các Trung tâm YTDP, Viện Da liễu, huyết học....trên địa bàn tỉnh.

Địa bàn: tại 10 tỉnh thành có số nhiễm HIV cao và nguy cơ bùng nổ dịch
1. Tp. HCM,2. Quảng Ninh,3. HảI Phòng,4. Hà nội,5. An giang, 6. Lạng Sơn, 7. Bà rịa Vũng tàu, 8. Cần Thơ, 9. Khánh Hoà, 10. Đà nẵng
- Biên soạn được cuốn cẩm nang về tư vấn dự phòng HIV/AIDS dành cho cán bộ tư vấn.


I.2. Hoạt động 2: Mở rộng các Chương trình giáo dục đồng đẳng (GDĐĐ)

Chương trình GDĐĐ sẽ được thiết lập, mở rộng hoặc tăng cường tại 20 tỉnh/thành trong năm thứ nhất và sẽ mở rộng cho các năm sau theo nhu cầu của dịch và khả năng tài chính mở rộng. Chương trình này sẽ tập trung vào các nhóm đối tượng có nguy cơ cao như đối tượng nghiện chích ma tuý (ĐTNC), gái mại dâm (GMD), người nhiễm và bạn tình của họ. Chương trình sẽ hỗ trợ tài chính cho việc tuyển dụng đồng đẳng viên, đào tạo, giám sát, lương, các phụ phí khác cũng như chi phí cho tài liệu giảng dạy và phân phối bao cao su.
Mục tiêu chủ yếu là mở rộng phạm vi hoạt động của các chương trình GDĐĐ, đào tạo đồng đẳng viên, giám sát và nâng cao khả năng tiếp cận của đồng đẳng viên với đối tượng có nguy cơ cao.
Hệ thống giáo dục đồng đẳng sẽ hợp nhất với các hoạt động của chương trình dự phòng ban đầu, liên kết với các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV dấu tên tại cộng đồng cũng như các dịch vụ y tế dành cho người nhiễm HIV/AIDS.

Đầu vào dự kiến:
- Nhân lực: 6 cán bộ đào tạo, 40 cán bộ giám sát
- Phương tiện hỗ trợ: tài liệu đào tạo và phục vụ giáo dục đồng đẳng, bao cao su, các hoá chất tiệt trùng ...

Đầu ra dự kiến:
- 400 giáo dục viên đồng đẳng (20GDVDD/tỉnh x 20 tỉnh) cho năm thứ nhất và sẽ tăng lên cho các năm tiếp theo theo qui mô của dự án
Các GDVDD là những người được lựa chọn từ các nhóm NCMT hoặc gái mại dâm trên địa bàn tỉnh đã cai nghiện hoặc hoàn lương, đảm bảo một số tiêu chí cơ bản (tự nguyện làm việc cho chương trình, có khả năng truyền thông, hướng dẫn và thuyết phục ...)

Địa bàn: 20 tỉnh có số báo cáo nhiễm HIV cao, có nguy cơ bùng nổ dịch và/hoặc chưa triển khai chương trình GDDD.
1. Hà nội, 2. Quảng Ninh, 3. HảI Phòng, 4. Lạng Sơn, 5. Đà nẵng,6. Khánh Hoà, 7. Tp. Hồ Chí Minh8. Cần Thơ, 9. Bà rịa Vũng tàu,10. An giang, 11. Nam Định,12. Thái Bình13. Hải Dương,14. Huế15. Nghệ An, 16. Kiên Giang, 17. Bình Dương18. Bình Định,19. Đăcklăk,20. Gia lai

I.3. Hoạt động 3: Tiếp cận các phụ nữ nhiễm HIV nhằm cung cấp hỗ trợ và chăm sóc làm giảm nguy cơ lây nhiễm mẹ con

Tại 5 tỉnh/thành phố có số phụ nữ nhiễm HIV/AIDS cao nhất, chương trình sẽ hỗ trợ tài chính và kỹ thuật giúp các đối tượng là phụ nữ có nguy cơ cao có thể tiếp cận được dịch vụ tư vấn và xét nghiệm. Đối với các đối tượng là phụ nữ nhiễm HIV chương trình sẽ giúp họ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ bao gồm cả điều trị làm giảm khả năng lây truyền từ mẹ sang con. Hoạt động này còn bao gồm các chương trình xét nghiệm và tư vấn trên quy mô cộng đồng cho những phụ nữ có nguy cơ cao như GMD, bạn tình của đối tượng nam nhiễm HIV, phụ nữ nghiện chích ma tuý và các đối tượng khác. Chương trình cũng tiến hành các đánh giá nguy cơ, xét nghiệm và tư vấn cho đối tượng phụ nữ mang thai, tập huấn cho các cán bộ y tế hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho nữ giới, đặc biệt là cho phụ nữ mang thai.

Đầu vào: - 2 giảng viên trong nước và 4 giảng viên quốc tế
- Trang thiết bị, địa điểm giảng dạy

Đầu ra: - 40 thầy thuốc sản phụ khoa của 5 tỉnh được tập huấn về tư vấn và xét nghiệm cho GMD, bạn tình nữ của nam nhiễm HIV, nữ TCMT; chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Đối tượng là các bác sĩ tại các bệnh viện sản và phụ khoa trên địa bàn tỉnh.
Địa bàn: 5 tỉnh thành có số nhiễm HIV cao nhất
1. Tp. HCM,
2. Quảng Ninh,
3. Hải phòng,
4. Hà nội,
5. An Giang


I.4. Hoạt động 4: Đánh giá dịch tễ và hoạt động để phát triển chương trình Đánh giá nguy cơ và dự phòng lan truyền HIV cho đối tượng tình dục đồng giới tại Việt nam
Nguy cơ lây truyền HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới vẫn chưa rõ ràng tại Việt nam. Tuy nhiên, đã có một số báo cáo cho thấy sự hiện diện của nguy cơ này trong đó có nhắc đến những người mại dâm nam tại một số tỉnh/thành phố. Vì vậy, cần phải tiến hành một đánh giá khoa học để khẳng định sự có mặt của nguy cơ này và đánh giá loại hình, phạm vi của hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cũng như các nhu cầu đối với các dịch vụ của chương trình. Nghiên cứu sẽ sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.

Đầu ra dự kiến:
- Xác định được sự hiện diện của hành vi tình dục đồng giới nam tại Việt nam
- Đánh giá được loại hình và mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm đối tượng này.
- Đánh giá được nhu cầu phát triển chương trình dự phòng


II. GIẢI PHÁP 2. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI GIA ĐÌNH, CỘNG ĐỒNG VÀ TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ (700.000 USD)


II.1. Hoạt động 1: Nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị HIV/AIDS và các nhiễm trùng cơ hội tại gia đình và bệnh viện.
Mục tiêu của chương trình là phát triển và trợ giúp thực hiện 1 giải pháp liên kết người nhiễm HIV với các dịch vụ chăm sóc toàn diện. Các dịch vụ này sẽ bao gồm giáo dục, tư vấn lâu dài cho bệnh nhân về việc duy trì tình trạng khoẻ mạnh càng lâu càng tốt nhờ chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng cơ hội, dinh dưỡng hợp lý, thực hành tình dục an toàn, ngừng hút thuốc và giảm tác hại do tiêm chích ma tuý.

Đầu vào:
- 2 giảng viên trong nước và 4 giảng viên nước ngoài
- Trang thiết bị địa điểm giảng dạy.
- Trang thiết bị chẩn đoán và thuốc điều trị bệnh NTCH
Đầu ra dự kiến:
- 240 cán bộ y tế cấp tỉnh được đào tạo đầy đủ và cơ bản về chăm sóc người nhiễm tại gia đình, thực hiện các khuyến nghị của CDC và WHO trong dự phòng tổng quát, biết phòng lây nhiễm HIV, các loại virut viêm gan và các bệnh khác cho bản thân và bệnh nhân tại các cơ sở y tế.
Đối tượng tham gia tập huấn chủ yếu là các bác sĩ hiện đang làm việc tại các bệnh viện trọng điểm của địa phương, tập trung vào các bác sĩ khoa lây, ngoại, sản.
- 40 tỉnh/thành phố được cung cấp vật dụng, thiết bị chẩn đoán và thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội cho bệnh nhân AIDS.
Địa bàn: 40 tỉnh có số nhiễm HIV cao nhất và có nguy cơ bùng nổ dịch
1. Tp. Hồ Chí Minh 2. Quảng Ninh, 3. HảI Phòng, 4. Hà nội, 5. An giang,6. Lạng Sơn, 7. Đồng Nai,8. Hải Dương,9. Nghệ An, 10. Đồng Tháp 11. Bà rịa Vũng tàu,12. Khánh Hoà, 13. Cần Thơ, 14. Kiên Giang, 15. Thái Nguyên,16. Bắc Ninh 17. Sóc Trăng 18. Bắc giang19. Cao bằng 20. Thái Bình 21. Nam Định,22. Tây Ninh23. Thanh Hoá24. Tiền Giang 25. Vĩnh Long 26. Đà nẵng,27. Trà Vinh 28. Lâm Đồng 29. Bình Dương 30. Bình Thuận 31. Bình Định32. Long An33. Hà Tây34. Hoà Bình35. Bến Tre36. Gia lai 37. Sơn la38. Đăcklăk,39. Thừa Thiên- Huế40. Quảng Nam

II.2. Hoạt động 2: Mở rộng và tăng cường giám sát, dự phòng và chăm sóc lao/HIV.

Bệnh lao đã trở thành vấn đề nghiêm trọng và phức tạp do dịch HIV/AIDS tại Việt Nam. Đầu tiên, số bệnh nhân lao tăng lên là do tình trạng suy giảm miễn dịch do nhiễm HIV, sau đó, dẫn đến hậu quả là vừa làm tăng sự lây truyền lao vừa dẫn đến quá tải các dịch vụ điều trị lao.
Chương trình sẽ hỗ trợ:
(1). Sàng lọc lao và theo dõi người nhiễm HIV;
(2). Tư vấn, xét nghiệm HIV và theo dõi bệnh nhân lao. Đồng thời hỗ trợ điều trị lao khi được chỉ định cho các bệnh nhân nhiễm HIV (bao gồm cả điều trị dự phòng).
Viện lao và bệnh phổi Trung ương sẽ cùng tham gia quản lý với NASB.

Đầu vào:
- 2 giảng viên trong nước và 4 giảng viên nước ngoài.
- Trang thiết bị và test kit xét nghiệm

Đầu ra dự kiến:
- 100% bệnh nhân nhiễm HIV tại các cơ sở y tế của 10 thành phố lớn được theo dõi và hỗ trợ điều trị lao (bao gồm cả điều trị dự phòng);
- Tư vấn và xét nghiệm HIV cho bệnh nhân lao đến khám và xét nghiệm tại các cơ sở y tế thuộc 10 thành phố lớn.
Đối tượng tham gia tập huấn tư vấn về dự phòng lao là các Bác sĩ tại các bệnh viện trọng điểm và chuyên khoa lao.

Địa bàn: 10 tỉnh/thành phố có số nhiễm HIV cao và có nguy cơ bùng nổ dịch
1. Tp. HCM,2. Quảng Ninh,3. HảI Phòng,4. Hà nội,5. An giang, 6. Lạng Sơn, 7. Bà rịa Vũng tàu, 8. Cần Thơ, 9. Khánh Hoà, 10. Đà nẵng



II.3. Hoạt động 3: Cung cấp dịch vụ chăm sóc HIV và y tế công cộng cho các đối tượng tại các Trung tâm 05/06.

Chương trình sẽ tăng cường các dịch vụ tư vấn dự phòng HIV và y tế cho các đối tượng (GMD và NCMT) tại các trung tâm 05, 06 của địa phương. Hiện nay, tại nhiều tỉnh có nhiều người nhiễm HIV hoặc có nguy cơ cao nhiễm HIV tại các trung tâm 05, 06. Chương trình này sẽ đánh giá nhu cầu của một vài trung tâm được lựa chọn theo mẫu từ hệ thống các trung tâm nêu trên. Sau đó, chương trình sẽ hỗ trợ Viện Y học Lâm sàng các bệnh nhiệt đới và các đơn vị khác cuả Bộ Y tế để tiến hành xét nghiệm, tư vấn dự phòng HIV và cung cấp các dịch vụ chăm sóc HIV, Lao và các bệnh lây truyền qua đường tình
Đầu vào: 2 giảng viên trong nước và 4 giảng viên quốc tế
Trang thiết bị và sinh phẩm

Đầu ra dự kiến:
- Đánh giá được nhu cầu xét nghiệm, tư vấn dự phòng HIV và chăm sóc y tế cho các đối tượng trong các trung tâm 05/06.
- Các bác sĩ đang công tác trong các TT05- 06 được tập huấn về bệnh NTCH và bệnh rủi ro nghề nghiệp.

Địa bàn: Các TT 05- 06


III. GIẢI PHÁP 3. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG(450,000 USD)


III.1. Hoạt động 1: Mở rộng chương trình giám sát điểm HIV tại Việt Nam
Hiện nay, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và các đơn vị khác của Bộ Y tế đang tiến hành chương trình giám sát điểm tại 20 tỉnh. Chương trình sẽ hỗ trợ để mở rộng GSTD thêm 10 tỉnh (tổng cộng 30 tỉnh)

Đầu vào dự kiến:
- Mua máy tính, đào tạo các nhân viên giám sát địa phương cách sử dụng và phát triển phầm mềm cho hệ thống giám sát.
Đối tượng được đào tạo về giám sát là các bác sĩ tại Trung tâm YTDP địa phương.
- Hỗ trợ và tư vấn về kỹ thuật để tăng cường việc thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, giám sát và sử dụng có hiệu quả dữ liệu giám sát.

Đầu ra dự kiến: Hệ thống giám sát điểm sẽ được mở rộng thêm 10 tỉnh
Chất lượng giám sát, thống kê số liệu được nâng cao.

Địa bàn: 10 tỉnh (theo dịa bàn lựa chọn của GSTĐ Việt nam)
1. Quảng Ninh2. Phú Thọ3. Hải Dương4. Hà Tây5. Nghệ An 6. Gia Lai7. Bình Thuận8. Lâm Đồng9. Sóc Trăng10. Cà Mau


III.2. Hoạt động 2: Mở rộng và tăng cường các chương trình giám sát STI.

Chương trình mong muốn sẽ mở rộng và tăng cường các chương trình giám sát STI, đặc biệt là tại các tỉnh có số nhiễm HIV/AIDS cao. Đồng thời tiến hành đánh giá, tăng cường hệ thống giám sát sẵn có, đào tạo các bác sĩ, dược sĩ tham gia dịch vụ điều trị.

Đàu vào: 2 giảng viên trong nước và 4 giảng viên quốc tế

Đầu ra dự kiến: - 40 cán bộ được huấn luyện về giám sát STI. Các cán bộ này là các bác sĩ thuộc Viện Da liễu/ Khoa da liễu bệnh viện địa phương.
- Thực hiện chương trình giám sát STI tại 5 tỉnh
- Đánh giá tình hình STI tại 5 tỉnh được lựa chọn

Địa bàn: tại 5 tỉnh có số nhiễm HIV cao nhất (TP. HCM, Hà nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và An Giang)


III.3. Hoạt động 3: Tăng cường hỗ trợ Labo cho công tác giám sát HIV/STIs, Lao và các nhiễm trùng cơ hội khác.
Tình trạng mắc STI được xem như là một chỉ số báo hiệu chiều hướng của dịch HIV nhưng hiện nay, công tác giám sát và đánh giá STI tại Việt Nam vẫn còn hạn chế trong việc cung cấp các thông tin có ích cho việc kiểm soát STI. Chương trình này sẽ tăng cường và mở rộng có lựa chọn hệ thống giám sát các STI khác. Cụ thể, chương trình sẽ cung cấp sinh phẩm để chẩn đoán cho các nhóm thuộc hệ thống giám sát trọng điểm, nâng cao khả năng chẩn đoán lậu, giang mai, Chlamydia và các bệnh nhiễm trùng qua đường sinh dục khác cho Viện Da liễu Trung ương; cấp các đánh giá dịch tễ cho tại các tỉnh được lựa chọn và đào tạo các bác sĩ và dược sĩ tham gia điều trị. Chương trình cũgn sẽ hỗ trợ tài chính và kĩ thuật giúp thiết lập các chương trình đảm bảo chất lượng labo, mua thiết bị phục vụ xét nghiệm, chẩn đoán và đào tạo các nhân viên labo để họ có thể hỗ trợ tốt hơn cho các hoạt động, dịch vụ khác trong LIFE.

Đầu vào: 2 giảng viên trong nước và 4 giảng viên quốc tế
Trang thiết bị và sinh phẩm
Đầu ra dự kiến:
40 cán bộ xét nghiệm các bệnh STI được tập huấn
40 bác sĩ điều trị các bệnh STI được tập huấn

Địa bàn: tại 5 tỉnh có số nhiễm HIV cao nhất (TP. HCM, Hà nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và An Giang)

III.4. Hoạt động 4: Giám sát và đánh giá

Mỗi dự án được thực hiện trong LIFE tại Việt Nam đều cần phải xây dựng kế hoạch giám sát và đánh giá các hoạt động và dịch vụ lớn. Chương trình sẽ có hỗ trợ bổ sung để tiến hành hỗ trợ kĩ thuật trong việc xây dựng kế hoạch giám sát hệ thống đánh giá và thực hiện các nghiên cứu đánh giá đặc biệt. Nghiên cứu sẽ đánh giá đầu ra và tác động của tư vấn và xét nghiệm, GDDD và các chương trình khác trong dự án LIFE.



III.5. Hoạt động 5: Phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật và hành chính quản lý Dự án.

Chương trình sẽ cung cấp và hỗ trợ tài chính thành lập 01 Văn phòng Dự án LIFE. CDC cũng hỗ trợ cho các nhân viên tham gia dự án.

Đầu vào: 05 cán bộ Dự án và một số nhân viên phục vụ
Trang thiết bị, máy móc
Đầu ra: 01 Văn phòng dự án


III.6. Hoạt động 6: Huấn luyện và phát triển chính sách

Việc hỗ trợ và đào tạo sẽ giúp chúng ta xem xét và tạo ra các chính sách y tế công cộng liên quan đến các vấn đề ưu tiên trong dự phòng và chăm sóc người nhiễm HIV.

Đầu vào: 6 giảng viên trong nước và quốc tế
Trang thiết bị, địa điểm, máy móc phục vụ lớp tập huấn và hội nghị

Đầu ra:
- 02 lớp tập huấn đào tạo các lãnh đạo cấp quốc gia và địa phương về quản lý và các chủ đề có liên quan đến HIV và hỗ trợ các chương trình khoa học, các can thiệp và các dịch vụ cần thiết cho công tác dự phòng HIV tại Việt Nam
- 01 hội nghị chuyên đề cho các nhà lập chính sách ở Việt Nam để xem xét lại các đáp ứng về chính sách, xã hội, y tế trong PC AIDS. Bổ sung nội dung, giải pháp và xây dựng chính sách trong tương lai cho phù hợp với sự phát triển của đại dịch và xu thế của toàn cầu.
- Trong các năm sau của Dự án, tuỳ thuộc vào nhu cầu và nguồn kinh phí dự án tăng lên, CDC sẽ hỗ trợ để thành lập một Trung tâm đào tạo, huấn luyện về lập kế hoạch, xây dựng chiến lược chính sách quốc gia về HIV/AIDS khi Chính phủ Việt nam chấp thuận.


B. NĂM THỨ 2, 3, 4 VÀ 5 CỦA DỰ ÁN

- Trong các năm thứ 2, 3, 4, và 5 của Dự án, chương trình sẽ duy trì và phát triển trên cơ sở các mục tiêu, chiến lược và nội dung hoạt động như năm thứ nhất trên cơ sở đó xem xét việc mở rộng cho tất cả các tỉnh, theo các yếu tố thực hiện Dự án:
1. Qui mô của dịch.
2. Hiệu quả hoạt động qua kết quả đánh giá từng năm
3. Khả năng mở rộng sự hỗ trợ về tài chính của Dự án

- Kế hoạch hoạt động và phân bổ tài chính chi tiết sẽ được xây dựng theo các vấn đề nêu trên và được xem xét thông qua tại cuộc họp 3 bên Kiểm điểm, đánh giá Dự án vào mỗi cuối năm hoạt động

C. HỖ TRỢ KỸ THUẬT QUỐC TẾ.

- CDC sẽ cử các chuyên gia Quốc tế sang Việt nam để hỗ trợ kỹ thuật cho các hoạt động.
- Mọi chi phí đi lại Quốc tế và trong nước, công tác phí, lương, bảo hiểm, ăn ở... cho các chuyên gia tham gia các hoạt động sẽ do CDC chi trả
Số lượt đọc:  1145  -  Cập nhật lần cuối:  04/11/2009 02:29:27 PM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Trưng cầu ý kiến

Bạn có đồng ý cho trẻ nhiễm HIV được tới trường đi học không ?

 
Xây dựng Chiến lược Phòng, chống HIV/AIDS Quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn 2030