|
Giới thiệu về Dự án
Tên dự án: Phòng chống HIV/AIDS
Cơ quan chủ quản: Bộ Y tế Địa chỉ: 138A Giảng Võ, Hà Nội, Việt Nam Điện thoại: 84 - 4 - 8464416
Cơ quan thực hiện: Cục Y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế Địa chỉ: 138A Giảng Võ, Hà Nội, Việt Nam Điện thoại: 84 - 4 – 8460133 / 8461591
Cơ quan tài trợ: Ngân hàng thế giới Thời gian dự kiến: Bắt đầu từ tháng 6/2005 và kết thúc vào tháng 12/2010 Địa điểm triển khai dự án: Các Viện Trung ương và 20 tỉnh, thành phố: An Giang, Bắc Giang, Bến Tre, Cao Bằng, Đồng Nai, Hải Phòng, Hậu Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hoà, Kiên Giang, Lai Châu, Nam Định, Nghệ An, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Tiền Giang, Vĩnh Long, Yên Bái.
Tổng số vốn dự án: Vốn ODA: 35 triệu Đô la Mỹ cho 5 năm triển khai dự án Vốn đối ứng: 3,5 triệu đô la Mỹ, trong đó: - Đóng góp bằng hiện vật tương đương 500.000USD gồm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị sẵn có và nhân lực. - Đóng góp bằng tiền: 3.000.000USD (tương đương 47 tỷ đồng) để chi trả cho các khoản thuế, phí hàng hóa mua sắm và các chi phí quản lý, điều hành cho Ban Quản lý dự án.
PHẦN II: NỘI DUNG DỰ ÁN
A. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN
1. Mục tiêu chung:
Góp phần khống chế tỷ lệ hiện nhiễm HIV dưới 0,3% trong cộng đồng đến năm 2010, thông qua các chương trình hành động can thiệp hiệu quả tại 20 tỉnh, nâng cao nhận thức của các tầng lớp dân cư về tạo chuyển biến mới trong nhận thức của các tổ chức chính quyền địa phương các cấp về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS.
2. Mục tiêu cụ thể:
2.1. Triển khai các biện pháp can thiệp thích hợp cho các đối tượng thuộc nhóm có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao.
2.2. Nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của cộng đồng trong các hoạt động phòng chống HIV/AIDS.
2.3. Hoàn thiện hệ thống giám sát, đánh giá chương trình phòng chống HIV/AIDS cấp quốc gia và cấp tỉnh.
2.4. Xây dựng mô hình lồng ghép về điều trị và dự phòng HIV/AIDS.
2.5. Tăng cường năng lực quản lý, chuyên môn trong công tác phòng chống HIV/AIDS cho cán bộ các cấp
B. NĂNG LỰC, QUY MÔ VÀ CÁC ĐẦU RA CHỦ YẾU CỦA DỰ ÁN
Dự án sẽ được triển khai trên 20 tỉnh, thành phố trên cơ sở đề cập tới hai yếu tố đó là: (1) Cân bằng giữa nhu cầu tiếp cận rộng khắp tới các đối tượng mục tiêu mà vẫn đảm bảo nguồn lực không bị dàn trải quá mỏng sẽ làm giảm tiềm năng đạt được hiệu quả cao; (2) Đảm bảo mỗi tỉnh được hỗ trợ sẽ nhận được đủ nguồn lực để giải quyết các nhu cầu của mình, cả về phòng chống và chăm sóc, hỗ trợ một cách toàn diện.
Theo thống kê của Cục Y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS, đến nay có 17 tỉnh của Việt Nam chưa hề nhận được sự hỗ trợ nào cho Chương trình phòng chống HIV/AIDS từ những nhà tài trợ Quốc tế. 17 tỉnh này gồm: Yên Bái, Vĩnh Phúc, Vĩnh Long, Tuyên Quang, Trà Vinh, Tiền Giang, Phú Yên, Lai Châu, Kon Tum, Hưng Yên, Hà Giang, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bến Tre, Bạc Liêu, Bắc Cạn và Quảng Ngãi. Tuy nhận thức rõ được mối quan tâm lo lắng của Chính phủ rằng tất cả các tỉnh đều cần sự hỗ trợ bên ngoài để thực hiện các hoạt động phòng chống HIV/AIDS, đoàn Giám sát của Ngân hàng Thế giới lưu ý rằng cần phải cân đối với bằng chứng liệu các tỉnh có phải là khu vực có nguy cơ cao về gia tăng đại dịch AIDS hay không. Thêm vào đó, thậm chí nếu một tỉnh đã nhận được hỗ trợ từ những nhà tài trợ khác, sự hỗ trợ này có thể chưa trang trải hết toàn bộ mọi hoạt động do chiến lược quốc gia yêu cầu. Sự hỗ trợ của Ngân hàng tại các tỉnh đã nhận được hỗ trợ từ các nhà tài trợ khác cần tập trung vào việc bổ sung thêm vào ngân sách chung còn thiếu của tỉnh.
Qua 4 lần công tác tìm hiểu về các tỉnh của dự án, đoàn công tác của Ngân hàng thế giới đã tiến hành khảo sát và thảo luận với các tỉnh để xem xét việc lựa chọn các tỉnh được thụ hưởng dự án. Đoàn xem xét đề cập nhiều đến độ bao phủ và tính rủi ro của dự án và khả năng hấp thụ dự án. Đây là khoản viện trợ không hoàn lại lớn nhất của Ngân hàng thế giới cho công tác phòng chống HIV/AIDS vì vậy Ngân hàng thế giới mong muốn rằng dự án sẽ được thực hiện thành công và có ý nghĩa quan trọng trong việc khống chế dịch HIV/AIDS của Việt Nam.
1. Tiêu chí lựa chọn tỉnh, thành phố tham gia dự án 1.1. Là tỉnh có số nhiễm HIV/AIDS cao và có các yếu tố nguy cơ của những đối tượng dễ bị tổn thương (tiêm chích ma tuý, mại dâm, dân lưu động, vv). 1.2. Cam kết tại cấp địa phương (phân bổ nguồn lực bổ sung của Uỷ ban Nhân dân; sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước; v.v...). Ngân hàng thế giới xem xét chủ yếu dựa trên các đầu tư của tỉnh cho công tác phòng chống HIV/AIDS. Các tỉnh có nhiều tiềm năng nhưng không đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS không được lựa chọn cho dù tỉnh đó có nguy cơ cao về lây nhiễm HIV/AIDS. 1.3. Năng lực cán bộ về quản l?ý và thực hiện các chương trình dự án (có xem xét mức về việc quản lý các dự án đã được thực hiện trước đây trên địa bàn tỉnh, t.phố). 1.4. Chưa có hoặc ít hỗ trợ Quốc tế dành cho tỉnh. Tuy nhiên, do không đảm bảo được dự án được đầu tư thành công hay không nên Ngân hàng thế giới xem xét phân tích từng trường hợp cụ thể.
Bốn tiêu chí trên đã được Nhà trợ đề xuất, yêu cầu và phối hợp với Cục YTDP và PC HIV/AIDS lựa chọn được 20 tỉnh, thành phố.
2. Danh sách các tỉnh được lựa chọn:
An Giang, Bắc Giang, Bến Tre, Cao Bằng, Đồng Nai, Hải Phòng, Hậu Giang, TP. Hồ Chí Minh, Khánh Hoà, Kiên Giang, Lai Châu, Nam Định, Nghệ An, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Tiền Giang, Vĩnh Long, Yên Bái
3. Đặc điểm của các tỉnh được lựa chọn
20 tỉnh được lựa chọn phân bố khắp Việt Nam, bao gồm cả vùng thành thị và nông thôn (kể cả thành phố Hồ Chí Minh) cũng như khu vực biên giới ở phía bắc hay phía nam của đất nước (hình 1 – Bản đồ các tỉnh dự án – Phụ lục 1).
Trong các tỉnh này, có sự cân bằng giữa các tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV thấp và các tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV cao, cũng như cân bằng giữa các tỉnh nhận được nhiều hỗ trợ và các tỉnh nhận được ít hỗ trợ. 5 trong số 17 tỉnh không nhận được các nguồn tài trợ quốc tế đã được lựa chọn, mặc dù đây đều là những tỉnh có ít dân, và có tỷ lệ nhiễm HIV cũng như số dân có nguy cơ thấp hơn so với mức bình quân toàn quốc. Tuy nhiên, vị trí địa lý của các tỉnh này dễ tạo điều kiện thuận lợi cho sự gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV. 20 tỉnh được lựa chọn chiếm tới 42% dân số và khoảng 55% tổng số ca nhiễm HIV được báo cáo trong toàn quốc. Trong số các tỉnh được lựa chọn, có TP. HCM và Hải phòng là 2 trong số các tỉnh thành đông dân nhất cả nước, và cũng là 2 trong số các tỉnh thành bị ảnh hưởng nhiều nhất trong cả nước. Việc lựa chọn các tỉnh thành này sẽ giúp dự án thu được nhiều bài học, để có thể áp dụng cho các tỉnh thành khác. Đặc biệt là từ 2 trung tâm mà dự án tác động sẽ tạo ra tác động lớn nhất, những bài học thu được sẽ được áp dụng có hiệu quả nhất cho các tỉnh thành khác.
Đối với các tỉnh miền Trung, Ngân hàng thế giới tính đến nhiều khả năng bùng phát dịch của các tỉnh này, tuy nhiên về mặt dịch tễ học diễn biến HIV/AIDS ở các tỉnh này khá bình lặng và duy nhất có Khánh Hoà là tỉnh có chứa đựng nhiều nguy cơ bùng nổ dịch HIV/AIDS. Ngân hàng thế giới quyết định chọn Khánh Hoà là tỉnh miền Trung tham gia dự án.
Việc lựa chọn các tỉnh cũng đã được Ngân hàng thế giới tính toán tới các khả năng rủi ro của dự án. Các tiêu chí lựa chọn được Ngân hàng thế giới cho điểm theo mức độ để cân nhắc cho việc lựa chọn. Sau 3 chuyến khảo sát, Ngân hàng thế giới đã thống nhất với Bộ Y tế lựa chọn các địa phương như đã nêu ở trên.
4. Các đầu ra chủ yếu của dự án (Khung kết quả đầu ra)
PHẦN III: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH
1. Lợi ích của dự án
1.1. Triển khai mạnh mẽ và đồng bộ các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi:
- Tận dụng và phối hợp các kênh truyền thông, các loại hình truyền thông hiện có để chuyển tải các kiến thức về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân, đặc biệt là những nhóm đối tượng có nguy cơ cao, người dân khu vực nông thôn, miền núi.
- Nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp.
- Tổ chức các chiến dịch truyền thông với quy mô lớn trên địa bàn các tỉnh dự án và toàn quốc, với mục đích chống kỳ thị và đưa giáo dục truyền thông dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS vào các ngày lễ, các sự kiện lớn về chính trị, kinh tế văn hoá - xã hội hàng năm của đất nước.
1.2. Tăng cường và hoàn thiện hệ thống giám sát, đánh giá chương trình phòng chống HIV/AIDS cấp quốc gia và cấp tỉnh:
- Nâng cao chất lượng các phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế tại các Viện, bệnh viện trung ương thông qua việc cung cấp trang thiết bị, đào tạo con người, kiểm tra, giám sát, đánh giá và chuẩn hoá thường xuyên.
- Với sự đầu tư của dự án, các cán bộ y tế tham gia chương trình giám sát trọng điểm và xét nghiệm phát hiện được huấn luyện về kỹ thuật và phương pháp xét nghiệm một cách hệ thống.
- Phát triển hệ thống theo dõi đánh giá chương trình, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác theo dõi, đánh giá chương trình ở tất cả các cấp.
- Tăng cường trang thiết bị cho hệ thống theo dõi, đánh giá, ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ, thông tin trong việc quản lý, triển khai theo dõi và đánh giá chương trình.
1.3. Tăng cường năng lực quản lý, chuyên môn trong công tác phòng chống HIV/AIDS cho cán bộ các cấp:
- Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách chịu trách nhiệm quản lý và triển khai thực hiện chương trình, chú trọng đội ngũ cán bộ cơ sở; Tăng cường khả năng điều phối và thực hiện chương trình cho các cán bộ quản lý chương trình HIV/AIDS.
- Nâng cao năng lực của tuyến tỉnh về lập kế hoạch, xây dựng ngân sách và thực hiện.
1.4. Phòng chống bệnh tật, nâng cao hiệu quả điều trị
- Tăng cường tiếp cận thuốc điều trị ARV, chăm sóc và hỗ trợ đối với người nhiễm HIV/AIDS
- Tăng cường hoạt động tại các trung tâm điều trị chuyên cho người nhiễm HIV/AIDS tại trung ương và khu vực.
- Mở rộng các phòng khám tại các trung tâm 05/06 để tăng tiếp cận điều trị HIV/AIDS
1.5. Hiệu quả kinh tế
Luận chứng kinh tế dựa trên tác hại đối với phát triển kinh tế xã hội mà đại dịch HIV/AIDS sẽ gây ra. HIV/AIDS lan rộng sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong trong số người ở độ tuổi lao động và đặt gánh nặng lên hệ thống y tế và xã hội. ốm đau và chết trẻ trong những người trưởng thành ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế:
- Mất hiệu xuất cá nhân trong khi ốm và do chết trẻ.
- Giảm tiền tiết kiệm của gia đình bao gồm giảm năng lực đầu tư vào giáo dục cho con cái.
- Giảm vốn đầu tư của các doanh nghiệp do nghỉ ốm và tỷ lệ tử vong cao.
- Gây thiệt hại cho vốn đầu tư của xã hội, do trở ngại xã hội và cách nhìn nhận HIV/AIDS
- Làm nghèo các hộ cá nhân do chi phí điều trị và chăm sóc.
Hội nghị Quốc gia về ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS đã nhận định: Đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn ban đầu và tập trung (chủ yếu khu trú trong nhóm nguy cơ cao là nghiện chích ma tuý và gái mại dâm). Tỷ lệ nhiễm HIV trong dân chúng nói chung ở mức thấp (dưới 0,15%). Đã có những nghiên cứu khác nhau chỉ cho thấy tính hiệu quả chi phí của việc giải quyết vấn đề sớm trước khi nó lây lan ra cộng đồng.
1.6. Hiệu quả về môi trường và xã hội:
Ảnh hưởng của Dự án đối với môi trường và xã hội chủ yếu tạo ra được thông qua việc tăng cường công tác thông tin, giáo dục và truyền thông chuyển đổi hành vi trong dân chúng nói chung, người nhiễm và trong nhóm nguy cơ cao. Các kiến thức, hiểu biết cơ bản về HIV/AIDS, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm góp phần làm thay đổi hành vi của người nhiễm, các nhóm nguy cơ như gái mại dâm, nghiện chích ma tuý, khách làng chơi; tăng cường hỗ trợ y tế và xã hội cho người nhiễm HIV, huy động sự tham gia của cộng đồng: chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ chức tôn giáo, Tổ chức phi Chính phủ... tạo môi trường thuận lợi cho người nhiễm HIV hoà nhập vào cộng đồng, cải thiện các nhìn nhận của công chúng về HIV/AIDS, giảm sự phân biệt kỳ thị, đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS.
Hơn thế nữa, việc tăng cường khả năng người nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận dịch vụ y tế và xã hội thể hiện việc quan tâm và chăm sóc của Chính phủ, Ngành Y tế và các ban ngành liên quan trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS, bảo vệ sức khoẻ cho cả cộng đồng xã hội và nòi giống. Nếu can thiệp thành công sẽ dẫn tới cam kết chính trị mạnh mẽ hơn nữa và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng triển khai ra toàn quốc.
Một trong các mục tiêu của Dự án là xây dựng mô hình lồng ghép về điều trị và dư phòng. Mục tiêu này đạt được sẽ làm tăng khả năng tự chăm sóc sức khoẻ cho ngưoiừ nhiễm và gia đình người nhiễm hiệu quả hơn và kéo dài sự sống của bệnh nhân AIDS.
Dự án tập trung vào việc tăng khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ y tế và xã hội của người nhiễm - đa phần là những người nghèo, giảm gánh nặng bệnh tật đối với người nhiễm, tạo mối quan hệ giữa các dịch vụ y tế công cộng với cộng đồng, tạo dựng khả năng của gia đình và cộng đồng trong việc đáp ứng với HIV/AIDS, góp phần vào việc giảm ảnh hưởng đối với kinh tế và xã hội của nhiễm HIV/AIDS.
2. Khả năng duy trì của dự án
Sau khi Dự án hoàn thành, các hoạt động phòng chống HIV/AIDS được tiêu chuẩn hoá; công tác phòng chống HIV/AIDS có thể duy trì các hoạt động:
2.1. Hệ thống máy móc thiết bị hiện đại, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu từ Trung ương đến địa phương. 2.2. Tạo môi trường y tế xã hội thuận lợi để người nhiễm HIV/AIDS tiếp cận với các dịch vụ điều trị, chăm sóc và hỗ trợ, góp phần giảm phân biệt, kỳ thị đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. 2.3. Trang bị kiến thức về phòng chống HIV/AIDS cho cán bộ làm công tác phòng chống HIV/AIDS từ Trung ương đến địa phương, và cho cả cộng đồng. Tạo được cơ chế phối hợp hoạt động giữa các Ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội. 2.4. Góp phần thay đổi hành vi con người đặc biệt là các đối tượng có nguy cơ cao: nghiện chích ma tuý, gái mại dâm và gia đình người nhiễm HIV/AIDS.
Hơn thế nữa Dự án còn đầu tư vào việc nâng cao năng lực quản lý và lập kế hoạch cán bộ làm công tác phòng chống HIV/AIDS từ tuyến Trung ương - đầu tư cho con người hiệu quả và bền vững cao phục vụ lâu dài cho công tác phòng chống HIV/AIDS. |