VAAC
Đang tải dữ liệu...
 
 Giới thiệuSitemapLiên hệ
Trang chủ
Tin tức
Giới thiệu
Các hoạt động chuyên môn
Hợp tác quốc tế
Kiến thức HIV/AIDS
Văn bản pháp quy
Báo cáo/Nghiên cứu/Ấn phẩm
Hỏi đáp
HIVQUAL
Dự án Quỹ Toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS
Dự án Quỹ Toàn Cầu :: Hợp tác quốc tế

Dự án Quỹ Toàn Cầu

   
04:44' PM - Thứ tư, 30/09/2009

Giới thiệu về Dự án

PHẦN I

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN

Tên dự án:Tăng cường chăm sóc, tư vấn, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS và các hoạt động phòng chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

Cơ quan chủ quản dự án: Bộ Y tế

Địa chỉ 138 A Giảng Võ, Hà Nội

Điện thoại 846 4416

Cơ quan thực hiện: Ban phòng chống AIDS - Bộ Y tế

Địa chỉ 138 A Giảng Võ, Hà Nội

Điện thoại 846 0133; 846 1591

Cơ quan tài trợ Quỹ toàn cầu phòng chống HIV/AIDS, Lao và Sốt rét (QTC)

Thời gian dự kiến bắt đầu Q3/2003

và kết thúc dự án Q3/2007

Địa điểm triển khai dự án: 20 tỉnh/thành phố: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Khánh Hoà, Đắc Lắc, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau.

Tổng số vốn dự án :

Vốn ODA: 7,5 triệu Đô la Mỹ cho 2 năm đầu (đã khẳng định từ QTC) và dự kiến 4.5 triệu Đô la Mỹ cho 2 năm tiếp theo.

Vốn đối ứng : 2.595.000.000 VNĐ tương đương 173.000 USD (từ nguồn ngân sách nhà nước gồm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nhân lực và tiền mặt)

Hình thức cung cấp ODA: Viện trợ không hoàn lại

PHẦN II

NỘI DUNG CỦA DỰ ÁN

A. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ DỰ ÁN:

I. BỐI CẢNH:

1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới

Trường hợp mắc hội chứng suy giảm miễn dịch đầu tiên được phát hiện tại Los-Angeles, bang California - Mỹ vào tháng 6 năm 1981. Sau đó nhiều bệnh nhân tương tự được phát hiện ở Haiiti và Châu Mỹ La-tin trên quần thể những người đồng tính luyến ái và những người nghiện chích ma tuý song vẫn chưa phát hiện được nguyên nhân. Hai năm sau (1983), tại Viện Pasteur Pari, Pháp, L. Montagnier và cộng sự đã phân lập được HIV từ hạch của 1 bệnh nhân. Một năm sau đó, công trình của Robert Gallot tại Trung tâm Ung thư của Mỹ đã khẳng định công trình của L. Montagnier và chứng minh đích tấn công cơ bản của HIV là tế bào CD4. Đến năm 1985, khi sinh phẩm chẩn đoán được bán rộng rãi trên thị trường và nhiều nơi có thể làm xét nghiệm thì người ta thấy rằng HIV đã lan tràn rất nhanh trên phạm vi toàn cầu.

Hai mươi năm trôi qua, AIDS trở thành một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất mà loài người gặp phải. Kể từ khi dịch bắt đầu cho tới nay đã có hơn 60 triệu người bị nhiễm vi rút này. Các khu vực phải gánh chịu gánh nặng bệnh tật nhiều nhất là Châu phi cận Sahara, châu Mỹ La tinh và vùng Caribê. Ở các nước Châu phi cận Sahara, HIV/AIDS là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tính trên toàn thế giới, HIV/AIDS đứng thứ 4 trong số những căn bệnh gây tử vong cao.

Tính đến cuối năm 2002, ước tính trên toàn thế giới có 42 triệu người nhiễm HIV còn sống. Tại nhiều nước đang phát triển, phần lớn những trường hợp nhiễm mới là thanh niên, trong đó những phụ nữ trẻ đặc biệt dễ bị lây nhiễm HIV. Khoảng 1/3 trong tổng số những người hiện đang nhiễm ở độ tuổi từ 15 đến 24. Phần lớn trong số họ không biết mình mang vi rút. Hàng triệu người hầu như không biết hoặc biết rất ít về HIV để tự bảo vệ mình chống lại căn bệnh này.

Sơ lược tình hình dịch bệnh trên toàn cầu tính đến tháng 12/2002:

Số người nhiễm HIV/AIDS Tổng số 42 triệu

Người lớn 38.6 triệu

Phụ nữ 19.2 triệu

Trẻ em dưới 15 3.2 triệu

Số người nhiễm mới trong Tổng số 5 triệu

năm 2002 Người lớn 4.2 triệu Phụ nữ 2.0 triệu

Trẻ em dưới 15 800.000

Số tử vong do AIDS năm 2002 Tổng số 3.1 triệu

Người lớn 2.5 triệu

Phụ nữ 1.2 triệu

Trẻ em dưới 15 610.000

2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương:

Tốc độ lây lan HIV ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thuộc loại cao nhất trên thế giới. Hiện nay ước tính có khoảng 7,1 triệu người mang vi rút HIV/AIDS trên toàn khu vực. Bệnh dịch đã cướp đi mạng sống của 435.000 người trong năm 2001. Tỷ lệ mắc thấp ở nhiều quốc gia đặc biệt là quốc gia đông dân như Trung Quốc, ấn Độ tạo ra sự nhầm lẫn nguy hiểm. Nó che dấu tình hình nạn dịch đang khoanh vùng ở những khu vực khác nhau và tiềm ẩn về một đại dịch lớn. Các chương trình can thiệp triển khai trên diện rộng đã cho thấy hiệu quả trong việc kìm hãm sự lây lan của bệnh dịch như ở Thái Lan và Căm pu chia.

Ở khu vực Đông Nam châu Á, đại dịch HIV/AIDS tiếp tục lây lan với tốc độ báo động. Hiện tại có khoảng 4 triệu người nhiễm HIV ở ấn Độ, 900.000 người nhiễm ở Thái Lan, 350.000 người ở Myanmar và 25.000 người ở Indonesia. Tỷ lệ nhiễm HIV trong gái mại dâm ở Mumbai (ấn độ) khoảng 52%. Tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ có thai khoảng 8% ở Chiang Mai (Thái Lan), 4,2% ở Mumbai (ấn độ) và 3-7% ở một số vùng ở Myanmar. Số lượng người nhiễm tăng kéo theo nhu cầu cần được chăm sóc các bệnh liên quan và AIDS và dẫn đến gánh nặng về y tế và xã hội cho ngành y tế, cộng đồng và gia đình.

3. Tình hình nhiễm HIV/AIDS và dịch tễ học HIV/AIDS ở Việt Nam

Theo báo cáo của Ban phòng chống AIDS, Bộ Y tế tính đến hết tháng 12/2002 trên toàn quốc đã có 59.200 người nhiễm HIV, trong đó 8.793 trường hợp đã chuyển thành bệnh nhân AIDS và 4.889 bệnh nhân đã tử vong do AIDS, số trường hợp bệnh nhân AIDS và tử vong cũng tăng đều theo các năm. Trong năm 2002 trên toàn quốc đã phát hiện được 12.540 trường hợp nhiễm HIV mới, trong đó có 1.851 bệnh nhân AIDS và 977 trường hợp bị tử vong do AIDS. So sánh với năm 2000 cho thấy số bệnh nhân AIDS và tử vong do AIDS tăng. Đến nay trên toàn quốc đã có 61/61 tỉnh báo cáo có các trường hợp nhiễm HIV. 80% số huyện và 50% số xã có người nhiễm.

************************

Bệnh nhân AIDS được báo cáo tăng đều qua các năm, con số năm sau tăng cao hơn so với năm trước. Định nghĩa của WHO về AIDS đã được sử dụng để chẩn đoán AIDS. Sự gia tăng số bệnh nhân AIDS không tương xứng với số nhiễm HIV báo cáo và về lịch sử tự nhiên của qúa trình nhiễm HIV.

************************

Số lượng bệnh nhân tử vong do AIDS cũng tăng đều qua các năm, cho đến nay đã có 3.534 trường hợp bệnh nhân tử vong do AIDS. Phân tích về nguyên nhân tử vong cho thấy chủ yếu bệnh nhân AIDS tử vong do suy kiệt: 41,17%, tiêu chảy kéo dài trên 17% và nguyên nhân do Lao chiếm 14,28%.

*********************

.1. Đường lây nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn chủ yếu là qua tiêm chích ma tuý.

Phần lớn các trường hợp nhiễm HIV là người nghiện chích ma tuý, chiếm từ 50-60% các trường hợp nhiễm qua các năm. Tỷ lệ này không có xu hướng giảm mà trái lại có chiều hướng gia tăng.

Một thực tế đáng lo ngại là trong những năm gần đây, tệ nạn NCMT tiếp tục có chiều hướng gia tăng, theo ước tính của Bộ Lao động thương binh xã hội trên toàn quốc có khoảng 140.000 người nghiện, phần lớn các đối tượng nghiện chích ma túy là đối tượng trẻ. Lực lượng này khi bị nghiện ma túy rất dễ chuyển từ hút sang chích và đây cũng là một lý do đáng kể làm cho chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm NCMT gia tăng trong những năm gần đây.

3.2. Nhiễm HIV có xu hướng trẻ hoá rõ rệt:

Những bằng chứng về dịch tễ học cho thấy, diễn biến nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam có xu hướng trẻ hoá rõ rệt. Phần lớn lứa tuổi nhiễm HIV là lứa tuổi trẻ từ 20-39 tuổi. Đây là lực lượng được đánh giá là lực lượng chính trong sản xuất ra của cải, vật chất cho xã hội và chính vì thế, dịch HIV có những ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Một trong những chiến lược quan trọng cuả chương trình Quốc gia phòng chống AIDS là làm giảm các tác động của dịch đối với xã hội.

Phân tích theo lứa tuổi các trường hợp nhiễm HIV qua các năm trở lại đây cho thấy có chiều hướng đảo ngược rõ rệt ở hai nhóm lứa tuổi 20-29 và 30-39. Vào năm đầu của dịch, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm tuổi 30-39 tuổi là 51,60%, lứa tuổi 20-29 tuổi là 14,80% nhưng hai đường biểu diễn về tỷ lệ nhiễm HIV giao nhau vào năm 1996 và từ đó chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm tuổi trẻ 20-29 gia tăng rõ rệt đạt 60,4% vào năm 2001 gần gấp 3 lần so với lứa tuổi 30-39. Điều này cũng rất phù hợp với những thay đổi về lứa tuổi trong nhóm NCMT.

3.3. Nam giới vẫn chiếm phần lớn các trường hợp nhiễm:

Nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ: 84,69% nam, nữ chiếm 14,86% trong tổng số luỹ tích các trường hợp nhiễm từ đầu vụ dịch đến nay. Tỷ lệ này thay đổi rất ít qua các năm và tỷ lệ này cũng tương tự như các diễn biến về dịch tễ học tại các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

3.4. Chiều hướng lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục có xu hướng tăng nhưng còn dao động:

Theo số liệu giám sát trọng điểm hàng năm tình hình nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân mắc bệnh tình dục có dấu hiệu tăng hàng năm. Năm 1996 tỷ lệ nhiễm là 073%, năm 1997 tăng gấp 2 lần, năm 1998 tỷ lệ nhiễm tăng gấp 3 lần (2.44%), năm 1999 là 3.77%, năm 2000 là 3.53%, năm 2001 là 5.63% và năm 2002 là 6.03%. Tuy tỷ lệ nhiễm vẫn còn ở mức độ thấp nhưng nguy cơ lan tràn dịch ra cộng đồng có xu hướng gia tăng trong các năm gần đây.

3.5 Nhiễm HIV có chiều hướng gia tăng trong các nhóm nguy cơ thấp:

Một vấn đề cần đặt ra cho chương trình quốc gia phòng chống AIDS ở Việt Nam là số nhiễm HIV trong quần thể có nguy cơ thấp (phụ nữ trước đẻ, thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự) đã có xu hướng tăng lên. Nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ trước đẻ cũng có chiều hướng gia tăng, năm 1999 là 0,08%, năm 2000 là 0,20%, năm 2001 là 0.34% và năm 2002 là 0.39%. Đã có 460 trường hợp phụ nữ trước đẻ nhiễm HIV từ trước tới nay.

Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự đã tăng từ 0,04% năm 1996 lên đến 0,15% vào năm 1998, năm 1999 tăng lên 0,41% và năm 2000 là 0,95% tăng gấp 2 lần so với năm 1999 và năm 2001 là 1.31%.

3.6 Số trẻ em bị nhiễm HIV ngày một gia tăng:

Số nhiễm mới tuyệt đối ở trẻ em dưới 5 tuổi cũng tăng theo chiều hướng phụ nữ trước đẻ tăng hàng năm: Năm 1997 là 7 trường hợp, năm 1998 là 68 trường hợp, năm 1999 là 46 trường hợp, năm 2000 là 67 trường hợp, năm 2001 là 73 trường hợp và năm 2002 là 57 trường hợp. Cho đến nay đã có 328 trường hợp trẻ em dưới 5 tuổi được phát hiện nhiễm HIV do lây truyền từ mẹ truyền sang con. Phần lớn các trường hợp trẻ nhiễm HIV đều bị bỏ rơi hoặc đưa vào các cô nhi viện, chính vì vậy đòi hỏi phải có một chính sách thích hợp cho trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS.

II. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC, TƯ VẤN VÀ HỖ TRỢ NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS Ở VIỆT NAM:

1. Quản lý, chăm sóc và tư vấn nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng (QCT)

Bộ Y tế được Chính phủ giao trách nhiệm tham mưu cho Chính phủ và chỉ đạo công tác phòng chống AIDS từ Trung ương đến địa phương. Việc đưa các dịch vụ y tế đến với người nhiễm là góp phần vào dự phòng nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam.

Sớm nhận thức được tầm quan trọng của công tác chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ người nhiễm trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam, với sự nỗ lực của Chính phủ, mô hình quản lý, chăm sóc và tư vấn người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng đã được triển khai thí điểm ở các tỉnh: TP Hồ Chí Minh, Khánh Hoà, An Giang từ năm 1996 và sau đó nhân rộng ra 20 tỉnh/thành phố. Tuy nhiên các hoạt động chủ yếu tập trung vào xây dựng mạng lưới quản lý người nhiễm tại cộng đồng và nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác phòng chống AIDS tuyến cơ sở. Sau vài năm thực hiện dự án đã thu được các kết quả đáng kể: tỷ lệ người nhiễm được tiếp cận với các dịch vụ y tế và xã hội tăng lên; sự hỗ trợ của Chính quyền địa phương và cộng đồng được cải thiện rõ rệt và đặc biệt chương trình này đã góp phần làm giảm phân biệt đối xử của cộng đồng đối với người nhiễm. Một số câu lạc người nhiễm được hình thành câu lạc bộ "Bạn giúp Bạn". Sự tham gia của các ban ngành, các tổ chức xã hội, tôn giáo cũng tăng lên như là "Trung tâm chăm sóc người nhiễm của Nữ Dòng tu Bác ái " ở TP Hồ Chí Minh.

Tháng 12 năm 2001, Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới tiến hành đánh giá nhanh mô hình thí điểm quản lý, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm tại cộng đồng. Tổng kết cho thấy những điểm mạnh và những tồn tại của mô hình này:

1.1 Điểm mạnh:

· Hướng tiếp cận dựa vào cộng đồng là yếu tố thiết yếu trong công tác chăm sóc và hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS: điều tra cho thấy 79% người nhiễm HIV/AIDS được chăm sóc tại cộng đồng.

· Các dịch vụ chuyên môn: nhân viên y tế đóng vai trò chủ đạo tham gia vào công tác QCT 63,5% là y sĩ, 20,3% là bác sĩ và 10,1% là y tá. Cán bộ y tế đã tham gia tích cực vào công tác đào tạo và chăm sóc người nhiễm.

· Thiết lập hệ thống điều trị tại các tỉnh: hầu hết bệnh viện đa khoa tỉnh đã có giường phục vụ công tác điều trị AIDS.

· Huy động được sự tham gia tích cực của gia đình người nhiễm vào các hoạt động chăm sóc và tư vấn: 73,2% gia đình người nhiễm đã tham gia công tác chăm sóc trong khi chỉ có 37,1% gia đình thực hiện công tác này trước khi có chương trình QCT.

· Thay đổi hành vi: 93% người nhiễm được quản lý, chăm sóc và tư vấn được hỏi đã thay đổi hành vi: tăng sử dụng bao cao su, không sử dụng chung bơm kim tiêm.

1.2 Những tồn tại:

· Khó tiếp cận với người nhiễm HIV: trong tổng số 20% số bệnh nhân chưa quản lý được, nhiều trường hợp người nhiễm thay đổi địa chỉ, dùng tên giả, địa chỉ giả nên khó tiếp cận. Hơn thế nữa, do người nhiễm vẫn khoẻ mạnh nên họ đi làm ăn ở nơi xa nên không theo dõi được sức khoẻ định kỳ và do đó họ không có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế công cộng.

· Sự tham gia của các ban ngành vào công tác QCT còn hạn chế: sự tham gia của chính quyền, ban ngành liên quan, các tổ chức đoàn thể đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ về tinh thần, vật chất, việc làm để làm giảm mặc cảm của người nhiễm cũng như sự kỳ thị của cộng đồng. Tuy nhiên công tác phối hợp giữa ngành y tế và các ban ngành liên quan thực sự chưa chặt chẽ, chưa có sự phân công công việc cụ thể cho từng ban ngành nên công tác QCT chưa đạt được hiệu quả cao.

· Thiếu mạng lưới và sự hỗ trợ của đồng đẳng viên: sự tham gia của người nhiễm vào công tác phòng chống AIDS còn rất hạn chế. Một số tỉnh đã thành lập được câu lạc bộ người nhiễm như CLB "Bạn giúp bạn" ở TP Hồ Chí Minh, tuy nhiên mô hình này cần được củng cố và nhân rộng sang các tỉnh khác.

· Thiếu sự tham gia của các Tổ chức Phi Chính phủ, Tổ chức từ thiện, tôn giáo.

· Các dịch vụ chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ còn hạn hẹp: do thiếu hụt về ngân sách, thiếu thốn trang thiết bị, thuốc điều trị đặc hiệu và nhiễm trùng cơ hội. Cán bộ phòng chống AIDS chủ yếu làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, ít kinh nghiệm, thiếu tập huấn, trang thiết bị các cơ sở xét nghiệm và điều trị, thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội, thuốc chống vi rút.

1.3 Các khuyến nghị từ hoạt động QCT:

· Chiến lược của công tác QCT là phải lấy việc chăm sóc tại gia đình và cộng đồng như một định hướng quan trọng.

· Quản lý, chăm sóc và tư vấn nhiễm HIV/AIDS là một nhiệm vụ mà ngành Y tế phải đảm nhiệm. Thành lập và tăng cường hệ thống quản lý, chăm sóc và tư vấn với hệ thống y tế là cốt lõi như là chìa khoá cho sự thành công.

· Sự hỗ trợ của các Ban, Ngành liên quan (Bộ Công An, Bộ Lao động-Thương binh và xã hội), Chính quyền địa phương luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc phối hợp tại cộng đồng các hỗ trợ xã hội đặc biệt là tạo việc làm cho người nhiễm. Chính những hỗ trợ xã hội này làm giảm kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng, giúp người nhiễm tái hoà nhập vào cộng đồng.

· Công tác QCT nên được triển khai sớm và ở tất cả các quận/huyện có người nhiễm.

· Cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các hệ thống chuyên khoa tại các cơ sở y tế các tuyến và thực hiện công tác chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ người nhiễm tại cộng đồng để đảm bảo chăm sóc và hỗ trợ toàn diện về y tế và xã hội đối với người nhiễm HIV/AIDS.

· Các mô hình tự chăm sóc của người nhiễm, giáo dục đồng đẳng trong quần thể người nhiễm cần được tăng cường và nhân rộng.

· Để có nguồn lực cho công tác QCT, nên huy động sự hỗ trợ từ gia đình người nhiễm, của cộng đồng, các Tổ chức phi Chính phủ, các Tổ chức từ thiện, tôn giáo, các Chương trình Mục tiêu quốc gia và Chương trình Y tế khác cũng như sự trợ giúp của các tổ chức thuộc Chính phủ và các Tổ chức Quốc tế.

2. Ngân sách nhà nước và hỗ trợ quốc tế cho công tác phòng chống AIDS quốc gia:

Ngân sách nhà nước dành cho công tác phòng chống AIDS còn hết sức hạn hẹp, trong đó một phần không nhỏ dành cho mua trang thiết bị và sinh phẩm cho giám sát và an toàn truyền máu. Kinh phí dành cho can thiệp dự phòng, chăm sóc và điều trị bệnh nhân HIV/AIDS, đào tạo nâng cao quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách phòng chống AIDS còn rất hạn chế.

Các hỗ trợ quốc tế (song phương, đa phương) cho công tác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV còn manh mún, thiếu điều phối. Phần lớn là thực hiện các nghiên cứu can thiệp thí điểm trên phạm vi nhỏ. Cho tới nay ngoại trừ một vài nghiên cứu mang tính thí điểm, chưa có dự án nào đầu tư một cách toàn diện cho công tác chăm sóc hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS.

3. Hệ thống y tế

Theo đánh giá của Quốc tế thì các chỉ số y tế Việt Nam tương đối tốt so với mức thu nhập bình quân đầu người bởi có mạng lưới y tế xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên hệ thống y tế thiếu được đầu tư cần thiết để đáp ứng với đại dịch HIV/AIDS và đạt được tiếp cận đa ngành. Số lượng người nhiễm HIV gia tăng đặt ra gánh nặng đối với ngành y tế. Hơn thế nữa lực lượng cán bộ phòng chống AIDS ở Việt Nam còn tương đối mỏng, phần lớn là làm việc theo chế độ kiêm nhiệm chưa thể đáp ứng những đòi hỏi và nhu cầu của công tác phòng chống AIDS trong tình hình diễn biến dịch nhanh và phức tạp như hiện nay. Hệ thống cơ sở y tế ngày càng trở nên quá tải, cơ sở vật chất, trang thiết bị xét nghiệm, chẩn đoán và thuốc men điều trị HIV/AIDS thiếu thốn đặc biệt là các tuyến cơ sở. Năng lực quản lý và chuyên môn của cán bộ phòng chống AIDS các tuyến còn nhiều hạn chế. Hệ thống bệnh viện chưa được đầu tư đồng bộ cả về số lượng giường dành cho bệnh nhân AIDS cũng như chất lượng các dịch vụ chăm sóc và điều trị. Mạng lưới điều trị mới chỉ được hình thành ở một số tỉnh/thành lớn. Việc tiếp nhận bệnh nhân vào điều trị gặp nhiều khó khăn: chưa có phòng riêng biệt, bệnh nhân nghèo nhà nước phải bao cấp các chi phí điều trị... Điều trị bệnh nhân AIDS ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào điều trị một số nhiễm trùng cơ hội thông thường: ỉa chảy, lao, viêm phổi, nấm... Điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội mới chỉ được tiến hành trong một vài nghiên cứu thí điểm với sự hỗ trợ của tổ chức Quốc tế. Do giá thuốc chống vi rút (ARV) đắt nên chỉ ưu tiên trong điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV cho nhân viên y tế và một vài dự án thí điểm về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ở một vài bệnh viện phụ sản Trung ương.

Dự phòng phổ cập tại các cơ sở y tế cũng là vấn đề bất cập do thiếu thốn trang thiết bị và dụng cụ tiệt trùng. Chế độ, chính sách bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp cho nhân viên y tế bị phơi nhiễm cần được quan tâm thoả đáng. Hiện nay tất cả các trường hợp nhân viên y tế phơi nhiễm HIV đều được ưu tiên sử dụng thuốc chống vi rút (ARV). Tuy nhiên cần đầu tư hơn nữa cho công tác dự phòng như trang thiết bị bảo hộ cho nhân viên y tế, tập huấn thường xuyên cho nhân viên y tế về dự phòng phổ cập...

4. Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và đáp ứng đa ngành trong chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS

Phân biệt đối xử, kỳ thị với người nhiễm vẫn tồn tại ở Việt Nam mặc dù Pháp lệnh phòng chống AIDS quy định người nhiễm không bị phân biệt đối xử người nhiễm. Nhận thức của cộng đồng về chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS còn thấp. Sự tham gia của Chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức tôn giáo, phi Chính phủ trong công tác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm còn hạn chế nên chưa tạo dựng được môi trường thuận lợi để người nhiễm tái hoà nhập vào xã hội. Cần thiết phải thiết lập cơ chế đáp ứng đa ngành thực sự để tổ chức và thực hiện được chương trình chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS. Các chế độ, chính sách liên quan đến chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS đặc biệt là chính sách về trẻ em nhiễm HIV bị bỏ rơi, mồ côi cũng chưa được hình thành hoặc chưa được hoàn chỉnh.

Dự án do Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét hỗ trợ sẽ bổ sung thiếu hụt ngân sách cho công tác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam. Dựa trên mô hình sẵn có về quản lý, chăm sóc và tư vấn nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng dự án sẽ phát triển chương trình chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS với sự tham gia của các ngành liên quan: y tế, công an, lao động thương binh xã hội, các tổ chức cộng đồng, tổ chức phi Chính phủ. Chương trình chăm sóc và hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS thí điểm tại 20 tỉnh/thành phố dự án sẽ cung cấp một loạt các dịch vụ y tế trên diện rộng trong hệ thống y tế. Cung cấp trang thiết bị thiết yếu của các cơ sở y tế trong hệ thống y tế từ Trung ương đến địa phương; tăng cường đào tạo chuyên môn về chăm sóc, tư vấn và điều trị HIV/AIDS cho cán bộ làm công tác phòng chống AIDS; xây dựng các trung tâm tư vấn xét nghiệm tự nguyện; tổ chức sàng lọc HIV cho các bà mẹ mang thai để điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; khuyến khích xây dựng các mô hình chăm sóc người nhiễm dựa vào cộng đồng; khuyến khích sự tham gia của gia đình người nhiễm, Chính quyền, ban ngành địa phương, tổ chức cộng đồng... vào hỗ trợ vật chất, tinh thần, tạo công ăn việc làm cho người nhiễm. Tất cả các hoạt động phối hợp, bổ sung cho nhau và tạo thành mạng lưới chăm sóc và hỗ trợ toàn diện với mục đích đưa được dịch vụ y tế và các dịch vụ hỗ trợ khác đến với người nhiễm, đảm bảo quyền được tiếp cận các dịch vụ của người nhiễm cũng như giảm phân biệt, kỳ thị người nhiễm trong cộng đồng. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng để đảm bảo sự thành công của chương trình.

III. KẾ HOẠCH TỔNG THỂ CHĂM SÓC VÀ HỖ TRỢ NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS Ở VIỆT NAM:

Chính phủ Việt Nam luôn coi phòng chống HIV/AIDS là một trong những ưu tiên trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. Quốc hội Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh phòng chống HIV/AIDS từ năm 1995 và tiếp theo là Nghị định của Chính phủ vào năm 1996. Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS, phòng chống ma tuý và mại dâm được thành lập vào 6 năm 2000 tháng do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch. Cam kết chính trị trong công tác phòng chống HIV/AIDS được thể hiện rất rõ trong Nghị Quyết Đại hội Toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX và trong các văn kiện quan trọng chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ngày 19/3/2001, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001-2010” trong đó công tác phòng chống HIV/AIDS được coi là một trong những ưu tiên.

Việt Nam tiếp tục cam kết phòng chống HIV/AIDS với thế giới bằng việc tham dự khoá họp đặc biệt toàn cầu của Liên Hiệp Quốc về HIV/ADIS tại New-York, Mỹ, tháng 6 năm 2001 (UNGASS). Đoàn đại biểu Việt Nam do Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đứng đầu và Thứ trưởng Bộ Y tế phụ trách về HIV/AIDS tham dự cũng thể hiện cam kết của Chính phủ đối với việc người nhiễm cần được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ.

Chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS được đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là một trong 10 mục tiêu của Chương trình Phòng chống các bệnh xã hội và bệnh dịch bệnh nguy hiểm (quyết định số 190/2001/QĐ-TTg, ngày 13/12/2001). Tháng 12 năm 2001 WHO đã hỗ trợ Bộ Y tế Việt Nam xây dựng kế hoạch thực hiện 5 năm công tác chăm sóc và hỗ trợ nguời nhiễm. Việt Nam nhìn nhận tầm quan trọng của công tác này từ năm 1996 qua việc triển khai công tác quản lý, chăm sóc và tư vấn nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng nhưng do ngân sách quốc gia và hỗ trợ quốc tế còn rất hạn chế nên các hoạt động chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm vẫn còn lẻ tẻ, chưa đồng bộ và thiếu toàn diện. Chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm là một trong nội dung cơ bản trong chương trình hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2001-2005 của Bộ Y tế:

1. Mục tiêu tổng quát:

Hạn chế tốc độ lây truyền HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư; làm chậm quá trình tiến triển của HIV thành AIDS; làm giảm tác hại của HIV/AIDS đối với sự phát triển của kinh tế xã hội.

2. Mục tiêu cụ thể:

2.1 Trên 90% cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, cán bộ các đoàn thể, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên, trên 80% nhân dân thành thị và 70% nhân dân ở các vùng nông thôn và miền núi hiểu biết về HIV/AIDS và có thái độ tích cực tham gia công tác phòng chống AIDS.

2.2 Đến năm 2005, 40 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đều có khả năng tự đánh giá và tự dự báo về diễn biến của nhiễm HIV/AIDS ở địa phương. Đảm bảo 100% các túi máu được sàng lọc HIV trước khi truyền ở tất cả các tuyến.

2.3 Đến năm 2005: 90% người nhiễm HIV/AIDS được quản lý, chăm sóc và tư vấn tại các tuyến. 100% các bà mẹ mang thai bị nhiễm HIV đều được tư vấn, điều trị và chăm sóc thích hợp.

2.4 100% các trường đại học, cao đẳng, trung học, phổ thông triển khai công tác giáo dục phòng chống AIDS. 100% các cơ sở chữa bệnh được thành lập theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, các trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng triển khai công tác thông tin, giáo dục, truyền thông và các biện pháp can thiệp phòng chống HIV/AIDS.

2.5 Có trên 70% xã/phường triển khai công tác phòng chống HIV/AIDS.

2.6 Thực hiện công tác giám sát các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV cao đạt 90% trở lên.

3. Các giải pháp chủ yếu:


3.1 Đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, giáo dục và truyền thông: triển khai mạnh mẽ, liên tục các hoạt động TT-GD-TT cả chiều rộng và chiều sâu, cả đô thị và nông thôn, miền núi, vùng biên giới, hải đảo, đưa TT-GD-TT về tuyến cơ sở, chú trọng tuyên truyền trực tiếp, phổ biến kiến thức, cách phòng tránh và vận động thực hiện hành vi an toàn phòng chống AIDS cho mọi tầng lớp nhân dân. Huy động mọi lực lượng, cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị truyền thông có sẵn của các ngành, các cấp, các đoàn thể nhân dân tham gia (TT-GD-TT) phòng chống AIDS. Nâng cao chất lượng chương trình giáo dục phòng chống AIDS trong các trường học. Mở rộng các hoạt động can thiệp giảm tác hại, chú trọng các nhóm đối tượng có hoặc dễ có hành vi nguy cơ. Kết hợp tuyên truyền phòng chống AIDS với tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá.

3.2 Tăng cường các hoạt động phòng chống AIDS trong lĩnh vực y tế: dựa trên quan điểm y tế dự phòng tích cực chủ động, tạo bước chuyển biến căn bản, toàn diện và đồng bộ trên tất cả các mặt hoạt động phòng chống AIDS trong lĩnh vực y tế. Đảm bảo và nâng cấp chất lượng công tác giám sát; đảm bảo an toàn truyền máu, an toàn trong các dịch vụ y tế và các dịch vụ xã hội có liên quan đến máu, dịch sinh học; tổ chức tốt công tác quản lý, chăm sóc và tư vấn người nhiễm HIV/AIDS; đẩy mạnh công tác điều trị bệnh nhân AIDS theo các ưu tiên; khuyến khích việc áp dụng các bài thuốc y học dân tộc điều trị hỗ trợ bệnh nhân AIDS; tăng cường công tác phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục; thúc đẩy các hoạt động phân phối và sử dụng bao cao su. Tổ chức tốt việc tuyên tuyền, giáo dục nữ thanh niên về phòng lây nhiễm HIV/AIDS, tổ chức tốt hệ thống quản lý, tư vấn phụ nữ mang thai, tổ chức tốt việc chăm sóc, điều trị cho trẻ em bị nhiễm HIV và chăm sóc trẻ em mồ côi.

3.3 Tăng cường công tác đào tạo cán bộ phòng chống HIV/AIDS: đẩy mạnh công tác đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống AIDS về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý và trình độ ngoại ngữ để phòng chống AIDS một cách hiệu quả.

3.4 Tăng cường nhân lực cho hệ thống phòng chống AIDS, xây dựng mạng lưới hoạt động với cơ cấu đa ngành; sử dụng sức mạnh hệ thống chính trị; huy động sự tham gia và phát huy triệt để nguồn lực của các ngành, các cấp. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác phòng chống AIDS. Đưa công tác phòng chống AIDS vào nội dung các chiến lược, các chương trình, kế hoạch phát triển, kinh tế xã hội của các cấp và kế hoạch công tác hàng tháng, hàng quý, hàng năm của các đơn vị cơ sở.

3.5 Giải pháp về vật tư, nguyên liệu, phương tiện, máy móc: chuẩn hoá hệ thống giám sát, xét nghiệm HIV/AIDS; cung cấp sinh phẩm, trang thiết bị tiệt trùng, trang thiết bị phòng hộ. Cung cấp thuốc điều trị cho bệnh nhân AIDS theo các mục tiêu ưu tiên. Xây dựng cung cấp trang thiết bị cho các phòng chăm sóc và điều trị bệnh nhân AIDS; cung cấp trang thiết bị truyền thông.

3.6 Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS. Mở rộng các lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Xác định các vấn đề ưu tiên trong nghiên cứu: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu vắc xin, nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu tác nghiệp, nghiên cứu ứng dụng các bài thuốc y học dân tộc.

3.7 Tăng cường và mở rộng hơn nữa hợp tác quốc tế trong phòng chống AIDS; củng cố các mối quan hệ hợp tác đã có; tìm kiếm các khả năng hợp tác mới theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá; thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và trong các nước ASEAN; sử dụng tối ưu các nguồn viện trợ và sự giúp đỡ của quốc tế.

3.8 Từng bước hoàn chỉnh cơ chế, chính sách pháp luật về phòng chống HIV/AIDS. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, các chính sách chế độ có liên quan đến HIV/AIDS: chính sách bảo hiểm, rủi ro nghề nghiệp và các chế độ khác đối với những người làm việc có liên quan trực tiếp đến HIV/AIDS; chính sách hỗ trợ vật chất và tinh thần đối với những người nhiễm HIV/AIDS không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi bị nhiễm HIV/AIDS. Đánh giá 5 năm việc thực hiện pháp lệnh phòng chống AIDS trên cơ sở có đề xuất các văn bản quy phạm pháp luật cần huỷ bỏ, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp.

3.9 Kinh phí thực hiện: kinh phí thực hiện chương trình được bố trí trong ngân sách hàng năm của Nhà nước và cơ chế thực hiện theo chương trình mục tiêu Quốc gia. Ngoài nguồn ngân sách Nhà nước cấp, các Bộ, ngành và các địa phương chủ động tạo mọi điều kiện nhằm huy động sự tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Tuy nhiên nguồn ngân sách Nhà nước chỉ đáp ứng được 10-20% so với nhu cầu.

IV. KHÁI QUÁT CÁC VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT:

1. Tăng cường nhận thức của người dân và huy động sự tham gia của cộng đồng:

Tăng cường nhận thức của người dân và huy động sự tham gia của cộng đồng, giảm phân biệt đối xử với người nhiễm HIV trong cộng đồng. Huy động sự tham gia của toàn thể xã hội: chính quyền, y tế, ban ngành liên quan, tổ chức phi Chính phủ, tôn giáo, người nhà và bản thân người nhiễm HIV trong công tác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm, giúp người nhiễm tái hoà nhập vào cộng đồng. Trong các điều tra về nhu cầu của người nhiễm HIV, về nhu cầu được chăm sóc và hỗ trợ đặc biệt là các chăm sóc điều trị y tế là đặc biệt cao đối với người nhiễm nhưng do một số những cản trở như các vấn đề về phân biệt đối xử, các cơ sở y tế không có đủ trang thiết bị, thuốc men và trình độ của các cán bộ y tế đã làm hạn chế khả năng tiếp cận của người nhiễm đối với các dịch vụ y tế.

2. Nâng cao năng lực y tế về chăm sóc và điều trị HIV/AIDS:

Nâng cao năng lực y tế về chăm sóc và điều trị HIV/AIDS để đưa dịch vụ y tế đến được với người nhiễm và những người nhiễm HIV/AIDS tiếp cận được với các dịch vụ y tế.

4.1. Mạng lưới y tế Việt Nam xuyên suốt từ Trung ương đến tuyến cơ sở dưới sự chỉ đạo và quản lý của Bộ Y tế. Tuy nhiên, hệ thống y tế thiếu được đầu tư cần thiết để đáp ứng công tác chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS. Hiện tại, Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới, bệnh viện Trung ương Huế và Trung tâm các bệnh Nhiệt đới TP Hồ Chí Minh được Bộ Y tế giao trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo và triển khai công tác điều trị cho 3 khu vực miền Bắc, Trung và Nam. Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới chịu trách nhiệm chung trên toàn quốc. Hệ thống điều trị bệnh nhân AIDS tại tuyến tỉnh bắt đầu được thiết lập và triển khai. Một số bệnh viện tuyến tỉnh bệnh viện Da Liễu Khánh Hoà, Đồng Nai, Hà Nội đã thành lập khoa AIDS. Còn lại hầu hết các bệnh viện bố trí giường điều trị bệnh nhân AIDS nội trú tại khoa truyền nhiễm.

2.2. Do số lượng bệnh nhân AIDS vào viện ngày càng nhiều, hệ thống các bệnh viện đang trở nên quá tải. Cơ sở vật chất, trang thiết bị xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS cũng như năng lực chuyên môn kỹ thuật của nhân viên y tế tại cơ sở y tế và cộng đồng còn yếu kém. So với nhu cầu, công tác chăm sóc và điều trị hiện nay thì chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ. Theo đánh giá của UNGASS, hàng năm với lượng thuốc ARV mà chương trình phòng chống AIDS cung cấp chỉ đáp ứng được 0,68% số bệnh nhân AIDS, một con số quá nhỏ so với lượng bệnh nhân AIDS tăng lên hiện nay.

2.3. Với sự hỗ trợ của Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét dự án đầu tư một phần để cung cấp trang thiết bị cho các cơ sở y tế, nâng cao năng lực chuyên môn cán bộ phòng chống AIDS các cấp mới có thể đáp ứng nhu cầu chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS ngày một tăng. Các điều tra về nhu cầu của người nhiễm trong hai dự án gần đây do Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển châu á hỗ trợ cho thấy, nhu cầu được tiếp cận với các dịch vụ y tế của bệnh nhân AIDS là rất lớn đặc biệt khi người nhiễm HIV đã có các dấu hiệu của các nhiễm trùng cơ hội.

3. Tăng cường mạng lưới dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng:

3.1. Người nhiễm lâu nay hầu như không được xã hội và cộng đồng quan tâm. Hơn thế nữa phần lớn người nhiễm là người nghèo, khó có khả năng tiếp cận và chi trả các dịch vụ y tế tối thiểu.

3.2. Dự án được xây dựng nhằm tăng cường khả năng người nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận với các dịch vụ y tế và xã hội thông qua triển khai các mô hình chăm sóc và hỗ trợ ngay tại cộng đồng, thiết lập mạng lưới tư vấn xét nghiệm tự nguyện, tổ chức sàng lọc HIV cho phụ nữ mang thai nguy cơ cao, điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.

3.3. Một phần quan trọng của dự án là huy động sự tham gia của cộng đồng và xã hội trong việc hỗ trợ tinh thần, vật chất, tạo công ăn việc làm cho người nhiễm HIV/AIDS để họ tái hoà nhập vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng lao động của người nhiễm HIV/AIDS.

4. Các hỗ trợ cho công tác chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam

Chương trình phòng chống AIDS ở Việt nam được các tổ chức quan tâm hỗ trợ, đầu tư về kinh phí cũng như các hỗ trợ kỹ thuật khác. Hầu hết các dự án đều tập trung cho vấn đề dự phòng lây nhiễm HIV đặc biệt là các nhóm có nguy cơ cao. Dự án FHI tập trung cho can thiệp giảm thiểu tác hại trong nhóm ma túy, dự án của Bộ phát triển Quốc tế Anh (DFID) hỗ trợ cho chương trình bao cao su...

4.1. Về hoạt động chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV: Địa bàn triển khai dự án ở 20 tỉnh, thành phố tập trung ở các địa bàn có nhiều người nhiễm HIV. Dự án tập trung chủ yếu cho chăm sóc, tư vấn, hỗ trợ người nhiễm HIV nên không bị trùng về nội dung hoạt động so với các dự án khác. Hiện nay đã có một dự án đầu tư về lĩnh vực chăm sóc hỗ trợ người nhiễm tiêu biểu là dự án CDC Hoa kỳ[1]. Các đầu tư của CDC chủ yếu tập trung cho một vài nghiên cứu về điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội, thiết lập mô hình khám chữa bệnh ngoại trú ở Bệnh viện Bạch mai và TP. Hồ Chí Minh, triển khai nghiên cứu huyết thanh mù tại bệnh viện Bạch mai. CDC không đầu tư cho việc mua thuốc điều trị đặc hiệu và điều trị nhiễm trùng cơ hội.

4.2. Hoạt động tư vấn, xét nghiệm tự nguyện: Tổ chức y tế thế giới (WHO) và chương trình phối hợp liên hợp quốc về phòng chống AIDS (UNAIDS) đã khuyến cáo các nước áp dụng mô hình phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện và coi VCT là một trong các biện pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV có hiệu quả [2]. Dự án LIFE-GAP đã tiến hành thí điểm 7 phòng xét nghiệm tại 7 tỉnh, thành phố trong năm thứ 1 và sẽ mở rộng ra 10 tỉnh cho năm thứ 2. Các báo cáo của LIFE-GAP cho thấy hệ thống này đã được vận hành và bước đầu có kết quả. Hoạt động VCT của LIFE-GAP chỉ thực hiện tại tuyến tỉnh nhưng cơ cấu phân bổ dân số đến 80% người dân sống ở vùng nông thôn nên WHO và UNAIDS khuyến cáo cần phải mở rộng dịch vụ VCT đến tuyến huyện. Dựa trên mạng lưới xét nghiệm HIV đã được hình thành tại tuyến huyện, Quỹ Toàn cầu nhân rộng mô hình VCT cho tuyến huyện. Dự kiến có 60 huyện cho năm thứ nhất và 40 huyện cho năm thứ 2.

4.3. Về nhu cầu đầu tư cho các hoạt động phòng chống AIDS: Hiện nay về đầu tư cho phòng chống AIDS mới chỉ đạt 0,07USD cho một đầu người nếu tính cả các nguồn viện trợ cũng chỉ đạt 4,68% so với khuyến cáo của Liên hợp quốc. Việc tìm kiếm các nguồn viện trợ bổ sung cho ngân sách phòng chống AIDS là đặc biệt quan trọng.

5. Dự phòng lây truyền HIV/AIDS từ các nhóm nguy cơ ra cộng đồng:

Dự án góp phần làm giảm lây truyền HIV/AIDS từ các nhóm nguy cơ ra cộng đồng thông qua việc tăng cường quản lý bệnh nhân HIV/AIDS, truyền thông thay đổi hành vi, số lượng người đến tư vấn và xét nghiệm tự nguyện tăng lên. Họ được tư vấn về các hành vi an toàn để ngăn ngừa sự lây lan của HIV/AIDS ra cộng đồng. Vì vậy, chăm sóc và điều trị tốt người nhiễm HIV là một biện pháp hữu hiệu để làm giảm bớt sự lây lan HIV ra cộng đồng, góp phần làm giảm ảnh hưởng của dịch HIV/AIDS đối với kinh tế, xã hội và sự phát triển của loài người.

Điều tra của Ngân hàng phát triển cho thấy có tới hơn 50% người nhiễm HIV tiếp tục tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục với gái mãi dâm không sử dụng bao cao su. Đây là một nguy cơ rất lớn nếu không giáo dục người nhiễm thay đổi các hành vi không an toàn. Dự án tập trung cho chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm sẽ làm giảm nguy cơ lây nhiễm từ người nhiễm ra cộng đồng góp phần giảm các tác động về kinh tế, xã hội đối với nhiễm HIV/AIDS.

V. KHÁI QUÁT VỀ CƠ QUAN VIỆN TRỢ:

1. Tôn chỉ và mục đích của Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét (QTC):

1.1. Khái quát: QTC là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập theo đề nghị của Liên Hiệp Quốc tại phiên họp thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét, có tổng hành dinh ở Geneva, Thụy Sĩ và thời gian hoạt động vô thời hạn. Nguồn vốn của QTC do sự quyên góp của các Quốc gia, tổ chức Chính phủ, lĩnh vực tư nhân (các tổ chức tư nhân và cá nhân). Để đảm bảo tài sản của QTC và tạo điều kiện cho việc quản lý nguồn vốn, QTC mở tài khoản uỷ thác tại Ngân hàng thế giới và trụ sở đặt tại Geneva theo luật của Thu?ỵ sỹ.

Ở cấp độ toàn cầu Quỹ toàn cầu có Ban điều hành Quỹ gồm 7 thành viên từ các nước phát triển, 7 thành viên từ các nước đang phát triển và các thành viên khác. Chủ tịch Quỹ được được bầu chọn luân phiên hàng năm. Hiện nay, Chủ tịch Quỹ toàn cầu do Bộ trưởng Bộ Y tế Mỹ, Phó Chủ tịch là Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế Thái lan và Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế điều hành. Các thành viên Ban điều hành Quỹ chủ yếu là Bộ trưởng, Thứ trưởng Bộ Y tế các nước.

Nguồn kinh phí cho Quỹ toàn cầu: Theo đề nghị của Tổng thư k?ý Liên hợp Quốc, dự kiến mỗi năm sẽ có khoảng 10 tỷ đô la Mỹ cho Quỹ. Cho đến nay, Quỹ toàn cầu có 3,4 tỷ USD trong đó 99,90% do Chính phủ các nước đóng góp và tại Hội nghị G8 vừa qua, cộng đồng châu Âu đã cam kết hỗ trợ cho Quỹ.

1.2. Mục đích: Thu hút, quản lý và giải ngân các nguồn lực thông qua cơ chế phối hợp chung giữa tư nhân và cộng đồng. QTC sẽ đóng góp nguồn tài chính đáng kể và ổn định cho các nước có nhu cầu để góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, ốm đau và chết qua đó hạn chế ảnh hưởng gây ra do AIDS, Lao và Sốt rét, góp phần giảm đói nghèo, mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ do Liên Hiệp Quốc đề ra.

1.3. Cơ cấu bộ máy quản lý hành chính và tư vấn của QTC ở cấp toàn cầu:

- Diễn đàn đối tác: Chịu trách nhiệm chia sẽ các thông tin, khuyến nghị các chính sách và các vấn đề liên quan khác của Quỹ.

- Ban điều hành QTC: là cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm điều hành quỹ, xem xét phê duyệt các đề cương dự án của các nước, hướng dẫn các nước thực hiện...

- Ban thư ký: Hỗ trợ cho Ban Điều hành Quỹ toàn cầu

- Nhóm xem xét kỹ thuật: Thẩm định các dự án về mặt kỹ thuật để đệ trình cho Ban Điều hành Quỹ toàn cầu xem xét phê duyệt.

2. Các quy định của Quỹ toàn cầu ở cấp quốc gia:

2.1 Thành lập Ban điều phối QTC:

Quỹ toàn cầu hướng dẫn các quốc gia xin viện trợ nên thành lập cơ chế điều phối ở các nước. QTC đề xướng và ủng hộ cơ chế điều phối hiện đang có ở các quốc gia và khuyến khích xây dựng và tiếp tục các sáng kiến, diễn đàn đối tác ở các nước trong cuộc chiến đấu chống lại 3 bệnh dịch nguy hiểm đối với loài người. Một trong những mục đích là đảm bảo các thông tin về QTC được phổ biến rộng rãi cho tất cả các đối tác quan tâm trong cả nước và khuyến khích các nước, đề án xây dựng các đề án xin QTC hỗ trợ. Thành phần của cơ chế điều phối QTC bao gồm đại diện cơ quan nhà nước, phi Chính phủ, tổ chức dựa vào cộng đồng, lĩnh vực tư nhân, thương mại, tôn giáo, học thuật, giáo dục, tổ chức Liên hiệp quốc, song phương và đại diện người nhiễm HIV/AIDS, Lao và Sốt rét. Tuy nhiên việc thành lập cơ chế điều phối Quỹ toàn cầu tuỳ theo hoàn cảnh của từng nước. Về thực chất Ban điều phối Quốc gia Quỹ toàn cầu là một diễn đàn và có một tổ chức linh hoạt nhằm mục đích chia sẽ các thông tin là cơ bản và tranh thủ các nguồn viện trợ từ quỹ. Đối với các dự án nên thông qua Ban điều phối Quốc gia để đóng góp ?ý kiến cho việc xây dựng và hoàn thiện dự án. Trong trường hợp không có Ban điều phối dự án vẫn có thể nộp cho Quỹ toàn cầu để Quỹ toàn cầu xét chọn.

Nhìn chung, các nước đều có Ban điều phối Quốc gia do Bộ Y tế thành lập và do Thứ trưởng Bộ Y tế làm trưởng Ban ngoại trừ một vài nước đang có chiến tranh và tình hình chính trị không ổn định. Ở Việt Nam, ngày 4/2/2002 Quỹ Toàn cầu gửi thư cho Bộ trưởng Y tế các nước đề nghị xây dựng dự án xin viện trợ của Quỹ, tiếp theo đó, Tổng giám đốc Tổ chức y tế thế giới đã có thư gửi Bộ trưởng Bộ Y tế nhanh chóng xây dựng các dự án nộp cho Quỹ toàn câù hạn cuối là 10/3. Đáp ứng yêu cầu này, Bộ Y tế đã nhanh chóng thành lập ban điều phối Quốc gia Quỹ toàn cầu và cho ?ý kiến đóng góp đề án HIV, Lao do Bộ Y tế xây dựng.

2.2 Cơ quan tiếp nhận viện trợ chính (PR):

Bộ Y tế Việt Nam là cơ quan đáp ứng được đủ yêu cầu cuả QTC trong vai trò của cơ quan tiếp nhận viện trợ chính (PR). Trách nhiệm của PR bao gồm:

- Ký thoả thuận viện trợ với QTC.

- Chịu trách nhiệm triển khai các đề án và quản lý tài chính:

+ Nhận, quản lý và giải ngân cho các tiểu đơn vị tiếp nhận viện trợ

+ Đảm bảo hệ thống theo dõi và giám sát, báo cáo tài chính và chương trình cho Ban điều phối QTC và QTC.

2.3 Cơ quan quản l?ý Quỹ địa phương (Local Fund Agent):

Theo quy định , QTC sẽ chỉ định cơ quan quản l?ý QTC tại nước được tiếp nhận viện trợ hỗ trợ cho Quỹ theo 4 nội dung công việc dưới đây. Đối với các nước khu vực Đông Nam Á có đề án được phê duyệt trong vòng xét duyệt đầu tiên, QTC đã lựa chọn KPMG là cơ quan đại diện cho Quỹ tại các nước này.

a/Vai trò và các hoạt động của KPMG:

- Giai đoạn trước khi ký kết thoả thuận viện trợ: tiến hành các đánh giá cụ thể về chức năng thực hiện đề án của QTC của đơn vị tiếp nhận viện trợ chính là Bộ Y tế và đưa ra các khuyến nghị cần thiết về nâng cao năng lực năng lực.

- Giai đoạn ký kết thoả thuận viện trợ: hỗ trợ QTC trong việc chuẩn bị thoả thuận viện trợ và thương thuyết viện trợ giữa Bộ Y tế và QTC.

- Giai đoạn triển khải các đề án: xem xét các “điểm mốc” dự kiến trong kế hoạch triển khai đề án, xem xét ngân sách, định mức chi tiêu, kế hoạch mua sắm, báo cáo tài chính, báo cáo chương trình hàng quý.

- Thông qua các đánh giá và xem xét về năng lực và kế hoạch thực hiện đề án, KPMG sẽ đưa ra những khuyến nghị kịp thời với QTC về việc tăng cường năng lực của Bộ Y tế và nếu cần thiết về việc giải ngân tiếp theo.

- KPMG không tham gia vào việc giải ngân, không kiểm soát việc thực hiện dự án, không thực hiện như một đơn vị kiểm toán của dự án. Các hoạt động của KPMG chủ yếu mang tính chất hỗ trợ .

- Trong trường hợp KPMG không khách quan trong những đánh giá hay hoạt động của mình thì đơn vị tiếp nhận viện trợ chính có quyền báo cáo với QTC để giải quyết các bất đồng và tranh chấp.

b/ Mục đích các đánh giá của QTC về Bộ Y tế:

Các đánh giá này được thực hiện trước khi tiến hành ký kết thoả thuận viện trợ giữa QTC và Bộ Y tế để xác định liệu Bộ Y tế đã sẵn sàng bắt đầu quản lý và triển khai các đề án và đưa ra các khuyến nghị về việc:

- Bộ Y tế có hệ thống quản lý tài chính và thu xếp giải ngân hợp lý và báo cáo về các đề án viện trợ của QTC.

- Bộ Y tế có hệ thống phù hợp để tiến hành giải ngân có hiệu quả cho các tiểu đơn vị tiếp nhận viện trợ.

c/ Các đánh giá:

- Thể chế và chương trình

- Hệ thống quản lý và tài chính

- Mua sắm và quản lý cung cấp hàng hoá

- Theo dõi và đánh giá chương trình

2.4 Thoả thuận viện trợ:

Sau khi KPMG hoàn tất các đánh giá và Bộ Y tế Việt Nam hoàn chỉnh các tài liệu cần thiết theo yêu cầu của QTC, một bản thoả thuận viện trợ chính thức sẽ được ký kết giữa Bộ Y tế Việt Nam và QTC.

B. MỤC TIU DỰ ÁN:

I. MỤC TIÊU CHUNG:

1. Tạo dựng môi trường y tế và xã hội thuận lợi, để người nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ qua đó góp phần giảm phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS.

2. Giảm tác động của đại dịch HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế xã hội góp phần ngăn chặn lây nhiễm HIV trong cộng đồng.

II. MỤC TIÊU CỤ THỂ:

1. 90% người nhiễm HIV/AIDS có địa chỉ tại 20 tỉnh tiếp cận với dịch vụ chăm sóc y tế và xã hội. 100 % các tỉnh trong dự án tổ chức mạng lưới chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ người nhiễm tại cơ sở y tế và tại cộng đồng.

2. 100% các tỉnh dự án triển khai tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện. 90% phụ nữ mang thai đến khám tại các bệnh viện phụ sản được tiếp cận với các dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện. 100% các phụ nữ mang thai HIV (+) được phát hiện tại các cơ sở y tế này được tư vấn và điều trị dự phòng lây truyền mẹ con. 90% trẻ nhiễm HIV được chăm sóc và điều trị thích hợp.

3. Tăng tỷ lệ tiếp cận thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS lên 10% mỗi năm.

4. 90% các cơ sở 05/06, trại tạm giam, trại giáo dưỡng trên phạm vi 20 tỉnh dự án triển khai công tác chăm sóc và tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS.

5. 100% cán bộ phòng chống AIDS trong mạng lưới được đào tạo chuyên môn y tế về HIV/AIDS (bao gồm xét nghiệm, điều trị, tư vấn và chăm sóc...).

6. 80% bệnh viện huyện, tỉnh tại 20 tỉnh dự án và một số bệnh viện Trung ương được trang bị thiết bị thiết yếu về xét nghiệm HIV, chẩn đoán và điều trị AIDS.

C. NĂNG LỰC, QUY MÔ VÀ CÁC ĐẦU RA CHỦ YẾU CỦA DỰ ÁN:

Dự án Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét hỗ trợ 12 triệu USD trong 4 năm để xây dựng chương trình chăm sóc và hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS. Dự kiến chương trình sẽ được triển khai tại 20 tỉnh/thành phố trên toàn quốc. Hiện tại QTC đã cam kết chính thức hỗ trợ cho 2 năm đầu tiên của dự án với tổng dự kiến ngân sách là 7.5 triệu USD. Ngân sách cho các năm tiếp theo sẽ phụ thuộc vào kết quả đánh giá triển khai dự án sau 2 năm đầu.

I. TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN TỈNH TRIỂN KHAI DỰ ÁN:

1. Các tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên 100.000 dân cao;

2. Đã triển khai công tác quản lý, chăm sóc và tư vấn người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng (QCT);

3. Có sự ủng hộ của các cấp chính quyền, năng lực cán bộ phòng chống AIDS tốt có khả năng đảm đương được dự án;

4. Phối hợp với các dự án trong nước và dự án hỗ trợ quốc tế khác đang được triển khai trên cùng địa bàn.

II. ĐỊA BÀN TRIỂN KHAI: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Khánh Hoà, Đắc Lắc, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau (bản đồ dự án – phụ lục V).

III. CÁC ĐỐI TƯỢNG DỰ ÁN TẬP TRUNG TÁC ĐỘNG:

1. Người nhiễm HIV/AIDS (phần lớn là nghiện chích ma tuý, gái mại dâm) và gia đình người nhiễm ở 20 tỉnh dự án.

2. Phụ nữ có thai nhiễm HIV và trẻ nhiễm HIV/AIDS dưới 5 tuổi.

3. Mạng lưới y tế phòng chống AIDS từ trung ương đến địa phương, cơ quan nghiên cứu, tổ chức cộng đồng như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ, các tổ chức phi Chính phủ tham gia công tác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm tại cộng đồng.

IV. CÁC ĐẦU RA CHỦ YẾU CỦA DỰ ÁN:

1. Nâng cao năng lực các cấp trong việc xây dựng mô hình toàn diện về chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS từ Trung ương đến địa phương.

2. Triển khai mô hình toàn diện về tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại 20 tỉnh/thành phố của Dự án.

3. Lồng ghép giữa dự phòng và chăm sóc thông qua triển khai chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con và tư vấn xét nghiệm tự nguyện.

D. CÁC NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA DỰ ÁN:

NỘI DUNG I: NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁC CẤP TRONG VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH TOÀN DIỆN VỀ CHĂM SÓC, TƯ VẤN VÀ HỖ TRỢ NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG

1. Vận động sự cam kết của các cấp trong công tác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS:

- Hội nghị toàn quốc về chống phân biệt đối xử, kỳ thị người nhiễm HIV/AIDS, huy động các cấp trong việc tăng cường chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS.

- Tổ chức các chiến dịch truyền thông về chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS.

2. Kiện toàn hệ thống chế độ chính sách liên quan đến HIV/AIDS: xây dựng và ban hành chế độ và chính sách về chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm, tư vấn xét nghiệm tự nguyện và phòng lây truyền từ mẹ sang con, chính sách đối với trẻ em nhiễm HIV bị bỏ rơi và mồ côi, chính sách đối với cán bộ y tế tiếp xúc trực tiếp với người nhiễm....

3. Điều tra cơ bản: tiến hành điều tra cơ bản để đánh giá thực trạng và nhu cầu công tác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS ở các tỉnh dự án.

4. Xây dựng hướng dẫn quốc gia và tài liệu tập huấn:

4.1 Hướng dẫn về tổ chức:

- Hướng dẫn thực hành về tổ chức thực hiện mạng lưới cho cán bộ quản lý chương trình trong hệ thống y tế từ tuyến tỉnh đến xã. Hệ thống quản lý báo cáo. Sự phối hợp giữa các tuyến (trao đổi thông tin, kinh nghiệm, thuyên chuyển bệnh nhân giữa các tuyến...) để đưa được dịch vụ tới người nhiễm HIV/AIDS: bệnh viện tỉnh, bệnh viện huyện, trạm y tế xã, trung tâm 05/06, trường giáo dưỡng...

- Hướng dẫn thực hành về tổ chức hoạt động mở rộng tại cộng đồng: thăm khám, tư vấn bệnh nhân định kỳ tại nhà, tổ chức truyền thông tại cộng đồng, hoạt động phối hợp với chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan...

- Hướng dẫn tổ chức mô hình lồng ghép tại cộng đồng: CLB “Bạn giúp bạn”, mô hình chăm sóc người nhiễm dựa vào cộng đồng của Hội chữ thập đỏ Việt Nam...

- Hướng dẫn tổ chức mạng lưới tư vấn xét nghiệm tự nguyện từ cơ sở đến Trung ương.

- Hướng dẫn tổ chức công tác tư vấn xét nghiệm tự nghuyện cho phụ nữ có thai và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.

4.2 Hướng dẫn chuyên môn:

- Hướng dẫn chuyên môn và tài liệu tập huấn về chẩn đoán, điều trị bao gồm cả điều trị bằng ARV, chăm sóc và tư vấn tại cơ sở y tế các tuyến.

- Hướng dẫn về chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm cho các tuyến cơ sở (huyện và xã).

- Hướng dẫn và tài liệu tập huấn về chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm tại gia đình và cộng đồng. Hướng dẫn chuyên môn và tài liệu tập huấn cho tư vấn viên tại các trung tâm tư vấn xét nghiệm tự nguyện.

- Hướng dẫn chuyên môn và tài liệu tập huấn về điều trị dự phòng lây truyền mẹ con, chăm sóc và điều trị cho trẻ sơ sinh nhiễm HIV/AIDS.

- Hướng dẫn về thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi (tài liệu truyền thông và các loại hình truyền thông đại chúng), quảng cáo và khuyến khích sử dụng dịch vụ VCT và PMCT.

5. Thành lập và hoạt động của Ban quản lý dự án trung ương trong quản lý, theo dõi và giám sát hoạt động dự án.

NỘI DUNG II: TRIỂN KHAI MÔ HÌNH TOÀN DIỆN VỀ TƯ VẤN, CHĂM SÓC VÀ HỖ TRỢ NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS TẠI 20 TỈNH/THÀNH PHỐ TRONG DỰ ÁN

I. Tổ chức quản lý dự án tại tỉnh: tại mỗi tỉnh thành lập Ban quản lý dự án tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức theo dõi và giám sát hoạt động tại tỉnh.

II. Triển khai các hoạt động:

1. Nâng cấp các khu điều trị, khoa/phòng AIDS tại các bệnh viện:

- Nâng cấp trang thiết bị chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS cho khu điều trị bệnh nhân AIDS tại 3 Trung tâm điều trị (Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới, Bệnh viện Trung ương Huế và bệnh viện Nhiệt đới TP Hồ Chí Minh) và các khu điều trị tăng cường tại các bệnh viện vệ tinh (Bệnh viện Cần Thơ, Bệnh viện da liễu Khánh Hoà, Bệnh viện đa khoa Đắc Lắc, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và Bệnh viện Việt Nam-Thuỵ Điển Uông Bí). Các trang thiết bị được cung cấp phục vụ công tác cấp cứu, chẩn đoán và điều trị bệnh nhân AIDS.

- Cung cấp trang thiết bị tiệt trùng cho khoa truyền nhiễm cho bệnh viện đa khoa 20 tỉnh dự án.

- Cung cấp trang thiết bị tiệt trùng cho các Trung tâm Y tế huyện có số lượng người nhiễm HIV/AIDS cao, dự kiến là 60 huyện trong năm thứ nhất, 40 huyện trong năm thứ 2 và tăng số huyện trong các năm sau nữa nếu QTC cam kết tiếp tục hỗ trợ.

- Cung cấp thuốc điều trị triệu chứng và điều trị nhiễm trùng cơ hội cho các cơ sở y tế và tổ chức khám chữa bệnh nhân HIV/AIDS bao gồm cả điều trị thí điểm cho một nhóm bệnh nhân bằng ARV.

2. Nâng cấp các phòng xét nghiệm chuẩn thức quốc gia và thành lập các trung tâm tư vấn xét nghiệm tự nguyện:

- Nâng cấp khu xét nghiệm HIV và theo dõi các diễn biến của nhiễm HIV/AIDS tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh và bệnh viện Bạch Mai.

- Thành lập và cung cấp các trang thiết bị truyền thông, sinh phẩm ... cho các phòng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện tại các Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh/thành phố và các Trung tâm Y tế huyện có số người nhiễm HIV/AIDS cao.

3. Đào tạo cho nhân viên y tế các tuyến:

3.1. Đào tạo giảng viên tuyến tỉnh: về xét nghiệm và chẩn đoán HIV/AIDS, theo dõi lâm sàng, điều trị NTCH và điều trị bằng ARV, dự phòng phổ cập và chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng/gia đình.

3.2 Đào tạo cho các tuyến cơ sở: Thời gian tập huấn từ 5-7 ngày tuỳ theo đối tượng và lĩnh vực chuyên môn. Tài liệu sẽ được các giảng viên biên soạn dựa trên các hướng dẫn và tài liệu tập huấn chuyên môn đã được xây dựng ở trên. Giảng viên được mời từ trung ương và các giảng viên tuyến tỉnh đã được đào tạo ở trên.

- Tập huấn cho nhân viên tại các cơ sở y tế các tuyến về chẩn đoán, điều trị và chăm sóc nhiễm HIV/AIDS, dự phòng phổ cập bao gồm cả các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng tại các cơ sở y tế.

- Tập huấn cho nhân viên y tế và nhân viên các tổ chức quần chúng ở cấp cơ sở (huyện, xã) về cách thức tổ chức hoạt động chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm tại cộng đồng, kỹ năng chăm sóc và tư vấn.

4. Tăng cường các hoạt động dựa vào cộng đồng và huy động cộng đồng tham gia vào công tác chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS:

- Tổ chức hoạt động của nhóm công tác mở rộng tại cộng đồng với sự tham gia của y tế cơ sở, các tổ chức đoàn thể, tổ chức phi Chính phủ, tình nguyện viên... để định kỳ thăm khám, điều trị và tư vấn người nhiễm và tổ chức hoạt động tuyên truyền tại cộng đồng.

- Tổ chức các hình thức sinh hoạt và tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS như là CLB người nhiễm như câu lạc bộ "Bạn giúp bạn", nhóm người nhiễm tự chăm sóc. Khuyến khích các tổ chức tôn giáo, phi Chính phủ địa phương thành lập các trung tâm/hội chăm sóc người nhiễm HIV.

- Phát triển các sáng kiến về triển khai mô hình chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm dựa vào cộng đồng như của các địa phương, Hội chữ thập đỏ Việt Nam, tổ chức phi Chính phủ...

- Tổ chức hội nghị/ chuyến đi trao đổi kinh nghiệm giữa các tỉnh, huyện xã trong dự án.

5. Vận động và thông tin, giáo dục và truyền thông:

- Hội thảo vận động chính quyền địa phương và chống phân biệt đối xử.

- Truyền thông về chăm sóc và hỗ trợ ngườ nhiễm tại địa phương.

- Triển khai các hoạt động phối hợp với các chương trình Quốc gia như chăm sóc sức khoẻ ban đầu, lồng ghép vào chương trình phòng chống lao...

6. Tham quan và học tập ở nước ngoài:

- Tham dự hội nghị khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, hội nghị AIDS toàn cầu và các hội nghị quốc tế về chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS.

- Học tập kinh nghiệm của nước bạn về cách thức tổ chức mô hình chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS.

7. Nghiên cứu:

- Cơ chế cung ứng và sử dụng thuốc kháng vi rút trong điều trị nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam, hiệu quả của các thuốc dự phòng NTCH...

- Nghiên cứu điều trị HIV/AIDS bằng thuốc y học cổ truyền và các nghiên cứu khác

NỘI DUNG III: LỒNG GHÉP, DỰ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC QUA TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON VÀ TƯ VẤN XÉT NGHIỆM TỰ NGUYỆN CHO PHỤ NỮ CÓ THAI

1. Triển khai công tác tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT) cho phụ nữ mang thai và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con (PMCT) tại 7 bệnh viện phụ sản (Viện Bảo vệ bà mẹ và Trẻ sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Từ Dũ, Hùng Vương (TP Hồ Chí Minh), Bệnh viện phụ sản tỉnh Thanh Hoá, Nam Định, Hải Phòng):

- Điều tra cơ bản (phối hợp với điều tra cơ bản ở tiểu phần II): để đánh giá thực trạng và nhu cầu công tác điều trị dự phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con.

- Nâng cấp trang thiết bị xét nghiệm và chẩn đoán HIV/AIDS;

- Xây dựng hướng dẫn tổ chức điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, và tài liệu tập huấn về VCT và PMCT cho cán bộ chuyên môn.

- Cung cấp trang thiết bị tuyên truyền cho phòng VCT tại bệnh viện phụ sản và sinh phẩm xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai nguy cơ và nghèo;

- Cung cấp thuốc điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con và các hỗ trợ khác cho phụ sản nhiễm HIV và trẻ sinh ra từ các sản phụ nhiễm HIV dương tính.

Trong quá trình triển khai các hoạt động này sẽ được xem xét và lồng ghép với các hoạt động do các tổ chức khác hỗ trợ để tránh chồng chéo và phát huy một cách có hiệu quả các hoạt động này tại địa phương.

2. Triển khai hoạt động VCT và PMCT tại tuyến tỉnh và huyện:

- Tổ chức hoạt động VCT và PMCT tại tuyến tỉnh và huyện

- Cung cấp trang thiết bị sinh phẩm phục vụ cho hoạt động VCT/PMCT.

- Đào tạo về VCT cho giảng viên tuyến tỉnh và tập huấn cho tuyến cơ sở.

3. Hình thành khu chăm sóc và điều trị trẻ em nhiễm HIV tại Viện Nhi và bệnh viện Nhi đồng I TP Hồ Chí Minh:

- Nâng cấp trang thiết bị xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS ở trẻ em;

- Cung cấp thuốc ARV để điều trị trẻ nhiễm HIV/AIDS;

- Cung cấp hỗ trợ cho trẻ nhiễm HIV, đặc biệt là trẻ bị bỏ rơi.

4. Tập huấn và hội nghị:

- Hội nghị định hướng về chiến lược tổ chức công tác VCT/PMCT cho các tuyến cơ sở.

- Tập huấn về tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện cho phụ nữ có thai và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.

- Đào tạo về chẩn đoán, điều trị trẻ nhiễm HIV và chăm sóc trẻ nhiễm HIV.

- Tham quan và học tập tại nước ngoài.

5. Thông tin, giáo dục và truyền thông về VCT/PMCT:

- Các hoạt động truyền thông về VCT và PMCT.

- In ấn các tài liệu truyền thông.

6. Nghiên cứu: về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.


********************************************************

PHẦN III

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH

I. HIỆU QUẢ KINH TẾ:

Luận chứng kinh tế dựa trên tác hại đối với phát triển kinh tế xã hội mà đại dịch HIV/AIDS sẽ gây ra. HIV/AIDS lan rộng sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong trong số người ở độ tuổi lao động và đặt gánh nặng lên hệ thống y tế và xã hội. ốm đau và chết trẻ trong những người trưởng thành ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế:

- Mất hiệu xuất cá nhân trong khi ốm và do chết trẻ.

- Giảm tiền tiết kiệm của gia đình bao gồm giảm năng lực đầu tư vào giáo dục cho con cái.

- Giảm vốn đầu tư của các doanh nghiệp do nghỉ ốm và tỷ lệ tử vong cao.

- Gây thiệt hại cho vốn đầu tư của xã hội, do trở ngại xã hội và cách nhìn nhận HIV/AIDS

- Làm nghèo các hộ cá nhân do chi phí điều trị và chăm sóc.

Hội nghị Quốc gia về ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS đã nhận định: Đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn ban đầu và tập trung (chủ yếu khu trú trong nhóm nguy cơ cao là nghiện chích ma tuý và gái mại dâm). Tỷ lệ nhiễm HIV trong dân chúng nói chung ở mức thấp (dưới 0,15%). Đã có những nghiên cứu khác nhau chỉ cho thấy tính hiệu quả chi phí của việc giải quyết vấn đề sớm trước khi nó lây lan ra cộng đồng.

II. HIỆU QUẢ VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI:

Ảnh hưởng của Dự án đối với môi trường và xã hội chủ yếu tạo ra được thông qua việc tăng cường công tác thông tin, giáo dục và truyền thông chuyển đổi hành vi trong dân chúng nói chung, người nhiễm và trong nhóm nguy cơ cao. Các kiến thức, hiểu biết cơ bản về HIV/AIDS, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm góp phần làm thay đổi hành vi của người nhiễm, các nhóm nguy cơ như gái mại dâm, nghiện chích ma tuý, khách làng chơi; tăng cường hỗ trợ y tế và xã hội cho người nhiễm HIV, huy động sự tham gia của cộng đồng: chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ chức tôn giáo, Tổ chức phi Chính phủ... tạo môi trường thuận lợi cho người nhiễm HIV hoà nhập vào cộng đồng, cải thiện các nhìn nhận của công chúng về HIV/AIDS, giảm sự phân biệt kỳ thị, đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS.

Hơn thế nữa, việc tăng cường khả năng người nhiễm được tiếp cận dịch vụ y tế và xã hội thể hiện việc quan tâm và chăm sóc của Chính phủ, Ngành Y tế và các ban ngành liên quan trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS, bảo vệ sức khoẻ cho cả cộng đồng xã hội và nòi giống. Nếu can thiệp thành công sẽ dẫn tới cam kết chính trị mạnh mẽ hơn nữa và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng triển khai ra toàn quốc.

Một trong các mục tiêu của Dự án là tăng cường dịch vụ sàng lọc và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cho phụ nữ có thai. Thông qua các dịch vụ này, số lượng trẻ em nhiễm HIV sẽ giảm. Bên cạnh đó, việc mở rộng dịch vụ y tế và xã hội cho người nhiễm tại các cơ sở y tế và cộng đồng bao gồm các dịch vụ tư vấn và chăm sóc trọn gói tại cộng đồng, sẽ hỗ trợ và mở rộng kiến thức cho bản thân người nhiễm, gia đình người nhiễm và toàn thể cộng đồng. Mục tiêu này đạt được sẽ làm tăng khả năng tự chăm sóc sức khoẻ cho người nhiễm và gia đình người nhiễm hiệu quả hơn và có thể cung cấp các dịch vụ tối thiểu về dinh dưỡng và vệ sinh cá nhân, thực hành các hành vi an toàn.

Dự án tập trung vào việc tăng khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ y tế và xã hội của người nhiễm - đa phần là những người nghèo, giảm gánh nặng bệnh tật đối với người nhiễm, tạo mối quan hệ giữa các dịch vụ y tế công cộng với cộng đồng, tạo dựng khả năng của gia đình và cộng đồng trong việc đáp ứng với HIV/AIDS, góp phần vào việc giảm ảnh hưởng đối với kinh tế và xã hội của nhiễm HIV/AIDS.

III. TÍNH BỀN VỮNG:

Sau khi Dự án hoàn thành, các hoạt động phòng chống HIV/AIDS được tiêu chuẩn hoá; công tác phòng chống HIV/AIDS có thể duy trì các hoạt động:

1. Hệ thống máy móc thiết bị hiện đại, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu từ Trung ương đến địa phương.

2. Xây dựng và mở rộng mô hình chăm sóc người nhiễm dựa vào cộng đồng. Tạo môi trường y tế xã hội thuận lợi để người nhiễm HIV/AIDS tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ, góp phần giảm phân biệt, kỳ thị đối xử với người nhiễm HIV/AIDS.

3. Trang bị kiến thức về phòng chống HIV/AIDS cho cán bộ làm công tác phòng chống HIV/AIDS từ Trung ương đến địa phương, và cho cả cộng đồng. Tạo được cơ chế phối hợp hoạt động giữa các Ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội.

4. Góp phần thay đổi hành vi con người đặc biệt là các đối tượng có nguy cơ cao: nghiện chích ma tuý, gái mại dâm và gia đình người nhiễm HIV/AIDS.

Hơn thế nữa Dự án còn đầu tư vào việc nâng cao năng lực quản lý và lập kế hoạch cán bộ làm công tác phòng chống HIV/AIDS từ tuyến Trung ương - đầu tư cho con người hiệu quả và bền vững cao phục vụ lâu dài cho công tác phòng chống HIV/AIDS.HI

Số lượt đọc:  4429  -  Cập nhật lần cuối:  26/01/2010 08:56:42 AM
Bài mới:  
Các chương trình, dự án
Hệ thống Phòng, chống HIV/AIDS  
Liên kết web địa phương